phần mở đầu, luận văn có 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh của NHTM Chƣơng 2: Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Đánh giá năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam trong bối cảnh hội nhập TPP Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam trong bối cảnh hội nhập TPP 3 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Về năng lực cạnh tranh nói chung Trên thế giới, việc nghiên cứu về năng lực cạnh tranh với nhiều khía cạnh khác nhau đƣợc nghiên cứu bởi nhiều nhóm tác giả từ những năm 60 và phát triển mạnh trong những năm 80.
Nổi bật là công trình nghiên cứu của Michael Porter nghiên cứu về chiến lƣợc cạnh tranh, đối thủ cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh.Duane Ireland & Robert E.Hoskisson (2007) với tác phẩm “Strategic Management, Competitiveness and Globalization: Concepts and Case” trình bày về quản trị chiến lƣợc và cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa. Cuốn “Khái luận về quản trị chiến lược” của tác giả Fred R. David đã làm rõ các vấn đề quản trị chiến lƣợc và áp dụng các chiến lƣợc vào hoạt động thực tiễn của mỗi doanh nghiệp. Các doanh nghiệp hiện nay đánh giá các tác động yếu tố bên ngoài và bên trong nhƣ thế nào, và yếu tố đó ảnh hƣởng ít hay nhiều đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Thông qua các ma trận đánh giá yếu tố của doanh nghiệp để có thể thấy đƣợc năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tốt ở mặt nào và yếu ở mặt nào, có mặt nào cần khắc phục. Bài viết của Nguyễn Thế Nghĩa (2007), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí Cộng sản điện tử, số 23 (143). Bài viết đã khái quát tình hình phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam và đƣa ra các hạn chế về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam nhƣ quy mô doanh nghiệp nhỏ, ít vốn; lạc hậu về khoa học công nghệ; hạn chế về khâu nguyên vật liệu và sự yếu kém về thƣơng hiệu; hạn chế về chiến lƣợc truyền thông và xúc tiến thƣơng mại… Từ đó, tác giả đƣa ra các giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Về năng lực cạnh tranh của NHTM Về nội dung năng lực cạnh tranh của các NHTM đã đƣợc một số tác giả tiếp cận ở các góc độ, phạm vi, đối tƣợng nghiên cứu khác nhau.
Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan tới đề tài này trong thời gian qua có thể kể đến: Bài viết “Thực trạng năng lực cạnh tranh của NHTM Việt Nam” của TS. Nguyễn Văn Hà đăng trên số 20 tháng 10/2013 Tạp chí Ngân hàng. Tác giả đã cho thấy rõ bức tranh tổng thể về thực trạng năng lực cạnh tranh của hệ thống NHTM Việt Nam trong giai đoạn triển khai kế hoạch tái cơ cấu thông qua việc đánh giá các chỉ tiêu về năng lực tài chính, về thị phần, về nguồn nhân lực, về trình độ CNTT và về hoạt động phát triển dịch vụ… Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành (2011): Cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng và các giải pháp chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh của TS. Kiều Hữu Thiện.
Nghiên cứu về “Nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống NHTM Việt Nam” có công trình nghiên cứu của tác giả Phạm Thanh Bình do NXB Chính trị quốc gia ấn hành năm 2005. Đề tài Cơ sở lý luận và thực tiễn một số giải pháp nâng cao hiệu quả cạnh tranh và hợp tác trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam (2000) do TS. Nguyễn Đắc Hƣng làm chủ nhiệm đề tài. Các công trình nghiên cứu này đã trình bày một cách tổng quát những vấn đề lý luận về năng lực cạnh tranh của NHTM, phân tích đánh giá một cách khá toàn diện về lý luận và thực trạng năng lực cạnh tranh của các NHTM trong từng lĩnh vực cụ thể để tìm ra những ƣu, nhƣợc điểm cùng các nguyên nhân và từ đó đề xuất một số giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM.
Về năng lực cạnh tranh của các NHTM trong bối cảnh hội nhập Barbara Casu, Philip Molyneux (2000), giảng viên Khoa Kế toán trƣờng Đại học xứ Wales đã tiến hành nghiên cứu so sánh kết quả hoạt động của hệ thống ngân hàng châu Âu. Các tác giả đã dùng phƣơng pháp phân tích phát triển dữ liệu phi tham số (Non-parametric Data Development Analysis) kết hợp với cách tiếp cận hồi 5 quy Tobit để phân tích tính cạnh tranh của hệ thống ngân hàng Châu Âu trong bối cảnh thị trƣờng Châu Âu thống nhất giai đoạn 1993 – 1997.Berger và Loretta J.Mester (2003) đã nghiên cứu về sự thay đổi hiệu quả của hệ thống ngân hàng Mỹ do sự thay đổi về các yếu tố kỹ thuật, cạnh tranh và quy định của Nhà nƣớc. Đề tài nghiên cứu đã cho thấy trong giai đoạn 1991 – 1997, hiệu quả về mặt chi phí giảm sút trong khi hiệu quả về mặt lợi nhuận đƣợc cải thiện một cách đáng kể, đặc biệt là khi các ngân hàng tham gia vào quá trình sáp nhập. Nghiên cứu cũng cho thấy sự gia tăng lợi nhuận bằng cách gia tăng các dịch vụ cao cấp.
Nghiên cứu về vấn đề năng lực cạnh tranh của NHTM trong xu thế hội nhập có sách chuyên khảo của PGS.TS Nguyễn Thị Quy: “Năng lực cạnh tranh của các NHTM trong xu thế hội nhập”, NXB Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2005. Tác giả đã phân tích một cách toàn diện thực trạng năng lực của các NHTM Việt Nam qua 6 tiêu chí: tiềm lực tài chính; năng lực công nghệ; nguồn nhân lực; năng lực quản lý và cơ cấu tổ chức; hệ thống kênh phân phối và mức độ đa dạng hóa các dịch vụ cung cấp; mức độ cạnh tranh và khả năng hợp tác giữa các ngân hàng trong nƣớc, từ đó đƣa ra những giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao những năng lực cạnh tranh của các ngân hàng Việt Nam trong tiến trình hội nhập, trên cơ sở đánh giá kinh nghiệm cải cách hệ thống NHTM của một số quốc gia trên thế giới nhƣ Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… Hội thảo quốc tế “Nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM trong bối cảnh hội nhập – Kinh nghiệm Đài Loan” do Viện Nghiên cứu Châu Âu; Học viện CNTT Đài Loan; Học viên Ngân hàng và Tài chính Đài Loan chủ trì tổ chức tại Hà Nội ngày 28/5/2007. Các chuyên gia hai bên đã đƣa ra kết luận: Những vấn đề mà ngành tài chính, ngân hàng Việt Nam đang gặp phải trong thời điểm đó giống 6 những gì mà Đài Loan đã từng giải quyết hơn 20 năm trƣớc đó. Do vậy, những thành công cũng nhƣ sai lầm mà Đài Loan từng gặp phải sẽ là những bài học kinh nghiệm tốt cho Việt Nam trong cải cách hệ thống tài chính, ngân hàng.
Bài viết của GS.TSKH Nguyễn Duy Gia về “Hệ thống ngân hàng Việt Nam: Cạnh tranh – Phát triển – Hội nhập quốc tế – Xu hướng tất yếu của thời đại” trên Tạp chí Ngân hàng 8-4/2006 đã chỉ rõ vai trò của hệ thống ngân hàng, phân tích về một số thách thức đặt ra cho hệ thống ngân hàng Việt Nam do những đòi hỏi của hội nhập kinh tế quốc tế và gia nhập WTO. Bài viết của Lê Minh Hƣng về “Các ngân hàng Việt Nam bước vào triển khai thực hiện các cam kết trong WTO – những vấn đề đặt ra” đăng trên Tạp chí Ngân hàng số 3+4 (tháng 2/2007). Trong bài viết này tác giả đã trình bày về những cam kết của nƣớc ta trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng và chỉ rõ những vấn đề đặt ra về năng lực cạnh tranh đối với các ngân hàng Việt Nam khi triển khai lộ trình thực hiện các cam kết trong WTO. Tác giả cũng cho rằng, để có thể hội nhập một cách đầy đủ và thực sự vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam nói chung và ngành ngân hàng nói riêng cần nỗ lực cải cách hơn nữa để tăng sức mạnh cạnh tranh cùng với những trợ giúp của cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế.
Bài viết của Trần Huy Hoàng: “Gia nhập WTO, lĩnh vực ngân hàng: Vận hội lớn, khó khăn không ít” trong hội thảo khoa học “Hội nhập quốc tế về ngân hàng” do trƣờng Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức tháng 7/2008 cho rằng: “Việc thực hiện những cam kết quốc tế về lĩnh vực ngân hàng trong gia nhập WTO đặt ra cho hệ thống NHTM Việt Nam những thách thức vô cùng to lớn. Trong cam kết gia nhập WTO, đến năm 2011, Việt Nam sẽ mở cửa hoàn toàn các dịch vụ cho NHNNg”.TS Trần Huy Hoàng kết luận: “Có thể nói hệ thống ngân hàng Việt Nam đang đứng trƣớc những vận hội to lớn cho sự phát triển, song những thách thức và yếu kém nội tại chắc chắn sẽ gây khó khăn không ít cho các NHTM trong nƣớc, nếu không có những cải cách thích hợp và đồng bộ với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế”. 7 Buổi tọa đàm ngày 9/11/2011 do trƣờng Đại học Ngoại thƣơng tổ chức với sự tham gia của ông Trƣơng Đình Tuyển – Nguyên Bộ trƣởng Bộ thƣơng mại (nay là Bộ Công thƣơng), ông Trịnh Quang Anh – Giám đốc trung tâm nghiên cứu kinh tế Maritimebank và bà Nguyễn Thị Quy – Nguyên hiệu phó, trƣởng khoa Tài chính – Ngân hàng trƣờng Đại học Ngoại thƣơng. Một trong những nội dung chính của buổi tọa đàm là năng lực cạnh tranh của các ngân hàng tại thị trường Việt Nam.
Bà Nguyễn Thị Quy cho rằng, ở thời điểm gần 5 năm gia nhập WTO, hệ thống NHTM Việt Nam đã và đang thể hiện ra một số tồn tại nhƣ trình độ công nghệ chƣa cao, năng lực quản trị điều hành còn yếu kém, đặc biệt là năng lực tài chính còn chƣa đảm bảo. Ông Trịnh Quang Anh chỉ ra những bất cập liên quan đến tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của các ngân hàng. Theo ông, nếu chỉ đánh giá CAR của các ngân hàng đạt trên 8% hay 9% là chƣa đủ. Thực tế cho thấy, việc tính toán CAR theo chuẩn mực kế toán của Việt Nam (VSA) còn chênh lệch rất nhiều so với việc tính CAR theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) và điều này gây ra không ít khó khăn cho vấn đề quản lý.
Ông Trƣơng Đình Tuyển cũng chỉ rõ những khó khăn trong lĩnh vực dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ tài chính ngân hàng.