phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc chia làm ba chƣơng: CHƢƠNG 1: VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN NÔNG SẢN BẮC NINH. CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NÔNG SẢN BẮC NINH TRONG THỜI GIAN TỚI. 8 CHƢƠNG 1 VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VỐN 1.1 Khái niệm, đặc trƣng của vốn trong doanh nghiệp 1.1 Khái niệm về vốn Bất cứ một doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì cũng cần phải có vốn, vốn là yếu tố không thể thiếu đƣợc của mọi quá trình sản xuất kinh doanh, do đó việc quản lý và sử dụng vốn đã là một nội dung quan trọng trong quản lý tài chính doanh nghiệp. Mục đích của việc quản lý vốn là đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh đƣợc liên tục, làm cho nguồn vốn luôn đƣợc mở rộng tạo tiềm lực tài chính lớn mạnh cho doanh nghiệp.
Vì vậy, việc xác định đƣợc đâu là vốn của một doanh nghiệp là điều cần thiết đảm bảo cho việc sử dụng vốn một cách có hiệu quả nhất. Vốn của doanh nghiệp có thể biểu hiện dƣới nhiều dạng khác nhau, đƣợc chia thành hai loại: vốn bằng hiện vật và vốn bằng tiền. Vốn bằng tiền đƣợc coi là nguồn lực tài chính của doanh nghiệp, nó là cơ sở để doanh nghiệp có thể có đƣợc các yếu tố đầu vào nhƣ nhà xƣởng, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu. đảm bảo cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh đƣợc tiến hành [8].
Vốn là tiền đề cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp do đó vốn đƣợc hình thành ngay từ khi doanh nghiệp đƣợc thành lập và vốn sẽ biến đổi theo thời gian cùng với quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Vốn sẽ đƣợc bảo toàn và tăng trƣởng khi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả. Mức tăng trƣởng của vốn tự có sẽ đƣợc 9 lấy từ phần lợi nhuận giữ lại dùng để tái đầu tƣ. Tùy vào chính sách của từng doanh nghiệp và tuỳ vào mức độ sinh lời của hoạt động sản xuất kinh doanh mà phần vốn đƣợc tăng thêm này sẽ nhiều hay ít.
Ngoài phần bổ sung từ lợi nhuận giữ lại để tái đầu tƣ, vốn của doanh nghiệp có thể đƣợc huy động bổ sung từ nhiều nguồn khác nhau để phục vụ cho nhu cầu mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, không có lợi nhuận để tái đầu tƣ, không có khả năng để huy động từ các nguồn khác thì vốn của doanh nghiệp sẽ giảm dần gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thậm trí có thể dẫn tới tình trạng phá sản. Nhƣ vậy, vốn là tiền để của mọi quá trình sản xuất kinh doanh và nó có thể tăng hay giảm đi phụ thuộc vào mức độ hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh và chính sách đầu tƣ của mỗi doanh nghiệp.2 Đặc trƣng của vốn trong doanh nghiệp Vốn là điều kiện tiền đề để bắt đầu quá trình sản xuất kinh doanh, quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Nhìn chung vốn của doanh nghiệp mang những đặc điểm sau: - Vốn đƣợc quan niệm là một hàng hoá đặc biệt, nó có giá trị và giá trị sử dụng.
Giá trị của hàng hoá này chính là giá trị của bản thân nó còn giá trị sử dụng của nó là thông qua việc mua bán trên thị trƣờng tạo ra một giá trị sử dụng lớn hơn. - Vốn đại diện cho một lƣợng giá trị tài sản có thực trong doanh nghiệp hay nói cách khác vốn thể hiện giá trị của tài sản hữu hình và tài sản vô hình. Không phải mọi tài sản đều đƣợc coi là vốn, chỉ những tài sản có giá trị đƣợc sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh mới đƣợc coi là vốn. - Vốn luôn vận động nhằm mục đích tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Vốn đƣợc biểu hiện bằng tiền nhƣng tiền chỉ là dạng tiềm năng của 10 vốn, để tiền biến thành vốn thì nó phải đƣơc sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh, đƣợc vận động và sinh lời. Vốn sau quá trình chuyển hoá vận động sẽ trở về hình thái ban đầu và sẽ mang lại giá trị lớn hơn vì vậy đồng vốn bị ứ đọng không tạo ra đƣợc lợi nhuận thì đƣợc gọi là đồng vốn chết. - Vốn có giá trị về mặt thời gian, một đồng vốn ở thời điểm hiện tại sẽ lớn hơn một động vốn trong tƣơng lai do đó xem xét hiệu quả kinh doanh là xem mỗi đồng vốn đầu tƣ vào kinh doanh phải không ngừng vận động và tăng trƣởng. - Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định nghĩa là vốn phải có chủ thì mới đƣợc sử dụng có hiệu quả, những đồng vốn không có chủ thƣờng bị sử dụng lãng phí kém hiệu quả.
Do đó, việc xác định rõ chủ sở hữu sử dụng vốn là vấn đề quan tâm nhằm thu hút vốn nhàn rỗi từ dân cƣ, các tổ chức trong và ngoài nƣớc vào các hoạt động đầu tƣ. Tuỳ theo lĩnh vực đầu tƣ mà ngƣời sở hữu có thể không đồng nhất với ngƣời sử dụng, song dù trong trƣờng hợp nào thì ngƣời sở hữu vốn vẫn đƣợc ƣu tiên đảm bảo quyền lợi. - Vốn phải đƣợc tập trung đến một lƣợng nhất định thì mới có thể phát huy tác dụng đầu tƣ vào sản xuất kinh doanh. Nếu đồng vốn phân tán, rải rác không đủ lớn thì việc thực hiện các hoạt động đầu tƣ không thành, doanh nghiệp mất cơ hội tìm kiếm lợi nhuận.
Do vậy doanh nghiệp luôn phải tìm cách tập trung và thu hút vốn tạo một lƣợng vốn đủ lớn đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh [11].2 Phân loại vốn trong doanh nghiệp Trong thực tế có rất nhiều cách phân loại vốn khác nhau tùy theo yêu cầu của công tác quản lý nhằm mục đích giúp các nhà quản lý có thể thấy một cách rõ nét nhất các chỉ tiêu về hiệu quả của mỗi đồng vốn. Ở đây, ta quan tâm đến hai cách phân loại sau: 11 * Phân loại dựa trên đặc điểm luân chuyển của vốn, theo cách phân loại này vốn trong doanh nghiệp đƣợc chia thành hai loại: vốn cố định và vốn lƣu động. - Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp. Quy mô vốn cố định nhiều hay ít nó quyết định quy mô hay khối lƣợng của tài sản cố định, nó ảnh hƣởng rất lớn tới trình độ trang bị kỹ thuật và công nghệ, năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Mặt khác, những đặc điểm kinh tế kỹ thuật của tài sản cố định áp dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh có ảnh hƣởng, chi phối tới quá trình tuần hoàn và luân chuyển vốn cố định. Đặc điểm cơ bản của vốn cố định là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và giá trị của nó luân chuyển dần từng phần vào giá trị sản phẩm mới tạo ra vì vậy vốn cố định có thời gian chu chuyển rất dài. Vốn cố định hoàn thành một vòng chu chuyển khi giá trị của nó chuyển dịch hết vào giá trị sản phẩm sau nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh. Vốn cố định đƣợc thu hồi thông qua việc trích khấu hao tài sản cố định.
Đây là đặc điểm quan trọng của vốn cố định do đó nguồn vốn để huy động cho vốn cố định thƣờng là dài hạn. - Vốn lƣu động là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản lƣu động của doanh nghiệp. Đặc điểm của vốn lƣu động là luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần vào giá trị sản phẩm và đƣợc thu hồi sau khi doanh nghiệp thu đƣợc tiền bán hàng. Vốn lƣu động đóng vai trò quan trọng, là điều kiện không thể thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Vốn lƣu động luôn biến đổi cả về hình thái và số lƣợng trong quá trình sản xuất kinh doanh, đáp ứng sự thay đổi của doanh số và sự biến động của thị trƣờng. Yêu cầu đặt ra đối với các nhà quản lý là phải xác định đúng nhu cầu vốn lƣu động, phải đảm bảo vừa đủ lƣợng vốn lƣu động, không thừa cũng không thiếu. Nếu thừa sẽ dẫn tới tình trạng ứ đọng vốn và ngƣợc lại nếu thiếu 12 sẽ dẫn tới việc gián đoạn quá trình sản xuất kinh doanh gây ra nhiều thiệt hại cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó doanh nghiệp nên có các biện pháp khai thác và huy động các nguồn tài trợ hợp lý nhằm đáp ứng đủ nhu cầu về vốn và thực hiện tốt việc quản lý và sử dụng vốn, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển của vốn, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh [10].
* Phân loại dựa trên nguồn hình thành của vốn, theo cách phân loại này vốn đƣợc chia thành hai loại vốn chủ sở hữu và vốn vay. - Vốn chủ sở hữu là phần vốn thuộc sở hữu của doanh nghiệp, đó là phần vốn mà doanh nghiệp tự có bao gồm vốn pháp định và vốn tự bổ sung từ lợi nhuận giữ lại, các quỹ đầu tƣ phát triển, quỹ dự phòng, chênh lệch do đánh giá lại tài sản. đối với công ty cổ phần thì có thể bổ sung vốn chủ sở hữu bằng phát hành cổ phiếu. - Vốn đi vay là phần vốn của đơn vị khác mà doanh nghiệp đƣợc quyền sử dụng trong một thời gian nhất định sau đó phải hoàn trả lại cho chủ sở hữu cả phần gốc và lãi.
Phần vốn này có đƣợc từ hoạt động vay nợ, phát hành trái phiếu. [10] Đối với mọi loại hình doanh nghiệp thì luôn phải có một tỷ lệ vốn vay nhất định để đáp ứng nhu cầu của hoat động sản xuất kinh doanh. Một doanh nghiệp có tỷ lệ vốn vay cao không có nghĩa là doanh nghiệp đó làm ăn không hiệu quả mà tỷ lệ vốn vay cao hay thấp tuỳ thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cần phải xác định cho mình tỷ lệ vốn chủ sở hữu và vốn vay một cách hợp lý để thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh.
Doanh nghiệp nào có khả năng huy động vốn tốt sẽ thuận lợi cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó.3 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp 13 Bất cứ một doanh nghiệp nào khi ra đời cũng cần có một lƣợng vốn nhất định bởi vì với bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào muốn tiến hành đƣợc đều phải cần có vốn.