phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung Luận văn đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng, gồm: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan và những vấn đề lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất B - R – NGK. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần bia Hà Nội - Nghệ An. Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần bia Hà Nội - Nghệ An.
3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG LĨNH VỰC SẢN XUẤT BIA – RƢỢU – NƢỚC GIẢI KHÁT 1.Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn Vấn đề nâng cao hiệu quả SXKD của các doanh nghiệp trong điều kiện phát triển kinh tế thị trƣờng đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Thời gian qua, đã có một số công trình nghiên cứu vấn đề này ở những khía cạnh khác nhau. Về sách và giáo trình Đáng chú ý có: Nguyễn Ngọc Huyền (2014), Giáo trình quản trị kinh doanh, Nxb Đại học kinh tế Quốc dân, tái bản lần 7; Phạm Văn Dƣợc (2004), Giáo trình phân tích hoạt động kinh doanh, Nxb Thống Kê, Thành phố Hồ Chí Minh; Phạm Thị Gái (2004), Giáo trình phân tích hoạt động kinh doanh, Nxb Thống Kê, Hà Nội. Trong các giáo trình này, các tác giả đã nêu tổng quát các yếu tố ảnh hƣởng đến hiệu quả SXKD của doanh nghiệp, nhƣ: năng lực tài chính, chất lƣợng lao động, năng lực quản trị, thị trƣờng, v.v; đồng thời, chỉ ra hệ thống các chỉ tiêu phân tích, đánh giá hiệu quả SXKD của doanh nghiệp, trong đó có các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tổng hợp, chỉ tiêu đánh giá cụ thể hệ quả sử dụng TSNH, TSDH, sử dụng lao động, v.
Bên cạnh đó, các giáo trình cũng chỉ ra những giải pháp xét ở khía cạnh lý luận chung nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào, nhƣ: vốn, nguyên vật liệu, lao động…trong SXKD, giúp doanh nghiệp đạt đƣợc lợi nhuận tối đa. Đây là những cứ liệu rất bổ ích cho học viên tham khảo xây dựng cơ sở lý luận của luận văn. Các luận án, luận văn sau đại học Liên quan đến đề tài mà luận văn học viên nghiên cứu, đáng chú ý có một số luận văn thạc sỹ kinh tế đã bảo vệ. 4 Thứ nhất, nhóm luận văn bàn về nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh, có: Nguyễn Thị Nga (2012), Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty cổ phần Viễn thông Hà Nội, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Bƣu chính viễn thông, Hà Nội; Đoàn Thúy Vân (2012), Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Đại học Ngoại Thƣơng, Hà Nội; Phạm Đăng Ninh (2014), Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty cổ phần bóng đèn phích nước Rạng Đông, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Đại học Kinh doanh và công nghệ, Hà Nội.
Các luận văn này tập trung bàn vấn đề nâng cao hiệu quả của một yếu tố đầu vào trong quá trình SXKD của doanh nghiệp là vốn, chứ không bàn đến nâng cao hiệu quả toàn bộ quá trình SXKD của doanh nghiệp. Hơn nữa, các luận văn này bàn đến hoạt động SXKD của các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực viễn thông, sản xuất bóng đèn, phích nƣớc, hay kinh doanh chứng khoán, mà không bàn đến loại hình doanh nghiệp sản xuất trong lĩnh vực B – R – NGK. Tuy nhiên, các luận văn này cũng có thể làm tài liệu tham khảo bổ ích cho học viên, nhất là khi các luận văn bàn đến các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả vốn nói chung; các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, liên quan đến chất lƣợng nguồn nhân lực, đến năng lực quản trị của chủ doanh nghiệp và các biện pháp làm tăng tốc độ chu chuyển của đồng vốn. Thứ hai, nhóm các luận văn nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả SXKD của doanh nghiệp, có: Trƣơng Thị Thu Hồng (2013), Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công ty cổ phần viễn thông Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Học Viện Bƣu chính viễn thông, Hà Nội; Trần Duy Long (2013), Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần cảng Nam Hải, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Đại học Hàng hải, Hải Phòng.
Hai luận văn này tập trung đánh giá thực trạng hiệu quả SXKD của 2 doanh nghiệp thuộc lĩnh vực viễn thông và kinh doanh cảng, mà không nghiên cứu vấn đề hiệu quả SXKD của doanh nghiệp sản xuất B – R – NGK. Tuy nhiên, các tác giả của hai luận văn này cũng đã đề cập đến một số vấn đề lý luận chung về hiệu quả SXKD của doanh nghiệp nói chung; đồng thời, cũng gợi mở những biện pháp có thể áp dụng chung cho nhiều 5 loại hình doanh nghiệp khi tìm kiếm giải pháp nâng cao hiệu quả SXKD của mình, nhƣ: nâng cao năng lực tài chính, nâng cao năng lực quản trị và nguồn nhân lực, đẩy mạnh bán hàng để tăng doanh thu, giảm chi phí, v. Đó là những kiến thức mà học viên có thể tham khảo trong quá trình triển khai nghiên cứu luận văn của mình. Thứ ba, nhóm luận văn nghiên cứu vấn đề nâng cao hiệu quả SXKD của doanh nghiệp sản xuất B – R – NGK, đáng chú ý có: Trần Huy Bình (2008), Xây dựng một số biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho Công ty Bia NADA, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
Tác giả luận văn này đã đề cập đến các yếu tố ảnh hƣởng đến hiệu quả SXKD của doanh nghiệp sản xuất B – R – NGK; đồng thời, tập trung đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả SXKD của Công ty bia NADA; trong đó, có các biện pháp về thị trƣờng, tài chính, giá cả, đổi mới thiết bị kỹ thuật, nâng cao chất lƣợng ngƣời lao động… là những giải pháp mà học viên có thể tham khảo trong quá trình triển khai luận văn thạc sĩ của mình. Tóm lại, đã có một số giáo trình, luận văn thạc sĩ kinh tế đề cập đến một số vấn đề lý luận về hiệu quả SXKD của doanh nghiệp, đƣa ra các gợi ý về giải pháp nâng cao hiệu quả SXKD của doanh nghiệp trên cơ sở phân tích thực trạng SXKD của các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, chƣa có công trình nghiên cứu nào trực tiếp nghiên cứu về việc nâng cao hiệu quả SXKD tại Công ty cổ phần bia Hà Nội - Nghệ An. Mặc dù vậy, những thông tin mà các công trình đã công bố nói trên rất bổ ích, mà học viên có thể kế thừa để triển khai nghiên cứu đề tài “Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty cổ phần bia Hà Nội - Nghệ An thuộc Tổng Công ty cổ phần bia – rƣợu – nƣớc giải khát Hà Nội”.
Từ khảo sát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố nói trên và từ mục đích nghiên cứu đặt ra, thì câu hỏi cho quá trình triển khai nghiên cứu đề tài luận văn của học viên là: thực trạng hiệu quả SXKD của CTCP bia Hà Nội – Nghệ An nhƣ thế nào? đâu là nguyên nhân dẫn đến sự giảm sút nhiều chỉ tiêu đánh giá hiệu quả SXKD của Công ty? Phải bằng những giải pháp cơ bản nào để nâng cao hiệu quả SXKD của Công ty trong thời gian tới? 6 1. Quan niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh và các yếu tố chi phối hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong lĩnh vực bia – rƣợu – nƣớc giải khát 1. Đặc thù của lĩnh vực sản xuất kinh doanh bia – rượu – nước giải khát Sản xuất kinh doanh B - R - NGK là lĩnh vực sản xuất ra đồ uống với rất nhiều mặt hàng có số lƣợng lớn; có vai trò đặc biệt quan trọng đối với đời sống xã hội, gắn liền với sức khỏe của ngƣời tiêu dùng thế hệ hôm nay và mai sau. Bên cạnh những đặc điểm giống nhƣ các ngành kinh doanh khác, sản xuất kinh doanh B - R - NGK có những điểm đặc thù riêng: Thứ nhất, đó là yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm cao; bởi ngành sản xuất B - R - NGK là một ngành công nghiệp chế biến từ những nguyên liệu đầu vào, nhƣ: nƣớc, hoa quả, đại mạch.
để sản xuất ra các sản phẩm B - R - NGK phục vụ nhu cầu về đồ uống cho con ngƣời. Sản phẩm của ngành là những thực phẩm, do đó chất lƣợng của nó tác động trực tiếp đến sức khỏe ngƣời tiêu dùng. Vì vậy, đảm bảo các tiêu chuẩn về chất lƣợng vệ sinh an toàn thực phẩm là yêu cầu hàng đầu đối với sản xuất B - R - NGK. Ở Việt Nam, yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với các sản phẩm B - R - NGK đã đƣợc quy định trong Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm (số 12/2003/PL-UBTVQH11, ban hành ngày 26 tháng 07 năm 2003) và một số tiêu chuẩn cụ thể đối với từng sản phẩm, nhƣ: tiêu chuẩn cho sản phẩm nƣớc khoáng thiên nhiên đóng chai, nƣớc tinh lọc hay đối với các loại bia, rƣợu, v.
Để đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, cần đảm bảo các điều kiện từ khâu sản xuất đến phân phối, tiêu dùng. Thứ hai, do B - R - NGK là những thực phẩm chế biến nên có thời hạn sử dụng không dài. Các sản phẩm bia tƣơi, bia hơi chỉ sử dụng đƣợc trong vòng một đến hai tuần; bia lon, bia chai, nƣớc hoa quả, nƣớc uống bổ dƣỡng thƣờng có thời hạn sử dụng 6 tháng; nƣớc khoáng, nƣớc tinh lọc thì trong khoảng một năm. Từ đặc tính này của sản phẩm mà việc sản xuất B - R - NGK phải đặc biệt chú trọng gắn kết với hoạt động phân phối và tiêu thụ sản phẩm.
Việc chậm tiêu thụ các sản phẩm 7 bia không chỉ làm tăng chi phí lƣu kho, mà còn có nguy cơ phải hủy bỏ sản phẩm đã sản xuất ra do chất lƣợng sản phẩm hết thời hạn sử dụng; kết cục là làm tăng chi phí sản xuất. Thứ ba, sản phẩm rượu, bia phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt; bởi đây là những sản phẩm Nhà nƣớc hạn chế sử dụng.