Chương 1 TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 1.1 Lý luận chung về quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội 1.1 Tăng trưởng kinh tế 1.1 Khái niệm Việc nghiên cứu về tăng trƣởng kinh tế đã đƣợc bắt đầu ngay từ khi khoa học kinh tế chính trị mới hình thành. Việc nghiên cứu về chủ đề này đã đƣợc đặt nền móng từ những nhà kinh tế học chính trị tƣ sản cổ điển Anh nhƣ A. Tăng trưởng kinh tế được hiểu một cách phổ quát theo quan điểm kinh tế học là sự gia tăng sản lượng thực tế của một nền kinh tế theo thời gian (thường là một năm). Điều đó cũng có nghĩa là: tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về số lượng,chất lượng các hàng hoá dịch vụ.
Tăng trưởng kinh tế là khái niệm phản ánh về sự gia tăng về lƣợng của một nền kinh tế, nó chƣa nói lên bản chất xã hội của nền kinh tế đó. Đây là kinh tế “tự thân”, kinh tế vì kinh tế. Để khắc phục tình trạng này các nhà kinh tế đã đƣa ra khái niệm Phát triển kinh tế để phản ánh cả mặt “chất” và mặt “lƣợng” của nền kinh tế. Phát triển kinh tế là khái niệm có nội hàm rộng hơn Tăng trƣởng kinh tế, bao gồm cả sự tăng trƣởng kinh tế (sự tăng trƣởng về lƣợng) và sự đạt đƣợc các chỉ tiêu về chất - trƣớc hết là chất lƣợng cuộc sống (mức tiêu dùng vật chất; mức hƣởng thụ về tiêu dùng dịch vụ và phúc lợi xã hội; sự bình đẳng của con ngƣời.) Trong báo cáo về phát triển kinh tế thế giới năm 1992 Ngân hàng thế giới đã đƣa ra khái niệm về phát triển kinh tế nhƣ sau: “ Phát triển là nâng cao phúc lợi của nhân dân.
Nâng cao tiêu chuẩn sống và cải tiến giáo dục, sức khỏe và bình đẳng về cơ hội là những thành phần cơ bản nhất của phát triển kinh tế. Tăng trƣởng kinh tế là một cách cơ bản để có đƣợc phát triển kinh tế.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế: * Các nguồn lực kinh tế Sau khi nghiên cứu về tăng trƣởng kinh tế của các nƣớc đang phát triển và các nƣớc phát triển, các nhà kinh tế học đã phát hiện ra rằng động lực phát triển kinh tế phải đi cùng trên bốn bánh xe, hay bốn nhân tố của tăng trƣởng kinh tế là vốn(tƣ bản), nguồn tài nguyên, công nghệ và nhân lực. Bốn nhân tố này khác nhau ở các quốc gia và cách kết hợp chúng cũng khác nhau đƣa đến những kết quả tƣơng ứng. - Vốn (tư bản): Vốn đƣợc hiểu là một bộ phận tài sản đƣợc sử dụng vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Vốn thƣờng tồn tại dƣới hai dạng: Vốn tài chính và vốn vật chất. Vốn tài chính là vốn tồn tại dƣới hình thức tiền tệ hay các loại chứng khoán còn vốn vật chất là vốn tồn tại dƣới dạng nhà xƣởng, máy móc thiết bị.tham gia vào quá trình sản xuất. Vốn tài chính và vốn vật chất có mối quan hệ gắn bó với nhau và không ngừng chuyển hoá cho nhau. Đây là là một trong những nhân tố sản xuất, tùy theo mức độ vốn mà ngƣời lao động đƣợc sử dụng máy móc, thiết bị.
nhiều hay ít (tỷ lệ vốn trên một đơn vị lao động) và tạo ra sản lƣợng cao hay thấp. Để có đƣợc vốn phải thực hiện đầu tƣ, điều này rất quan trọng trong sự phát triển dài hạn, những quốc gia có có tỷ lệ đầu tƣ lớn tính trên tổng GDP thƣờng tăng trƣởng kinh tế cao và bền vững. Tuy nhiên, vốn không chỉ là máy móc, thiết bị do tƣ nhân đầu tƣ cho sản xuất mà nó cũng là tƣ bản cố định xã hội, những thứ tạo tiền đề cho cho sản xuất và thƣơng mại phát triển. Tƣ bản cố định xã hội thƣờng là những dự án quy mô lớn, gần nhƣ không thể chia nhỏ đƣợc và có lợi suất tăng dần theo quy mô nên phải do chính phủ thực hiện.
Ví dụ: hạ tầng của sản xuất (đƣờng giao thông, mạng lƣới điện quốc gia. Vốn đầu tƣ chiếm một vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình tăng trƣởng và phát triển. Đầu tƣ ở Trung Quốc tăng từ 30,2% những năm 70 lên 35,7% những năm 80,tỷ lệ tăng trƣởng tăng lên tƣơng ứng từ 5,9% lên 9,0%. 8 Ngƣợc lại đầu tƣ của Đài Loan giảm từ 29,6% xuống 23,7% khiến tỷ lệ tăng trƣởng giảm từ 10% xuống 8%.
- Tài nguyên thiên nhiên: Là một trong những yếu tố sản xuất cổ điển. Những tài nguyên quan trọng nhất là đất đai, tài nguyên trong lòng đất, rừng và nguồn nƣớc. Tài nguyên thiên nhiên đóng vai trò quan trọng để phát triển kinh tế. Trƣớc đây, tài nguyên là nhân tố quan trọng nhất của quá trình tăng trƣởng.
Đặc biệt là tài nguyên đất đai trong nền kinh tế nông nghiệp. Ricardo đã từng cho rằng đất đai là giới hạn của tăng trƣởng kinh tế. Trong giai đoạn hiện nay, nguồn tài nguyên bị khai thác và sử dụng ồ ạt nên ngày càng cạn kiệt, nhất là các loại tài nguyên không có khả năng tái sinh. Các nhà kinh tế học đã chỉ ra vấn đề này qua việc phát hiện ra quy luật về sự khan hiếm của tài nguyên.
Ngay cả tài nguyên trƣớc đây đƣợc coi là vô tận nhƣ nƣớc, cũng đang trở nên suy giảm bởi sự sử dụng và khai thác bừa bãi của con ngƣời. Vì vậy, vấn đề hàng đầu hiện nay của toàn cầu là việc sử dụng các nguồn tài nguyên thế nào cho hợp lý. Công nghệ tiết kiệm tài nguyên và không làm tổn hại môi trƣờng đã đƣợc sử dụng rộng rãi ở các nƣớc tiên tiến. Tuy nhiên, ở các nƣớc kém phát triển, do sự lạc hậu và yếu kém về kinh tế, vấn đề khai thác và sử dụng tài nguyên vẫn chƣa đƣợc quan tâm một cách hợp lý.
- Khoa học - công nghệ: Tiến bộ công nghệ là nhân tố giữ vị trí quan trọng đối với quá trình tăng trƣởng. Sự phát triển của kĩ thuật - công nghệ là một trong các nhân tố chính tạo nên những đặc điểm của tăng trƣởng kinh tế hiện đại. Tiến bộ công nghệ dẫn đến việc dịch chuyển đƣờng giới hạn khả năng sản xuất ra phía ngoài, sản lƣợng tăng, thúc đẩy kinh tế phát triển, khoa học và công nghệ giúp cho cùng một lƣợng lao động và tƣ bản có thể tạo ra sản lƣợng cao hơn, nghĩa là quá trình sản xuất hiệu quả hơn. Công nghệ phát triển ngày càng nhanh chóng và ngày nay công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới… có những bƣớc tiến nhƣ vũ bão góp phần tăng hiệu quả sản xuất.
- Tài nguyên con người: Ngày nay, lực lƣợng lao động và vấn đề con ngƣời đƣợc coi là nhân tố quan trọng nhất của quá trình tăng trƣởng. Hầu hết các yếu tố khác nhƣ tƣ bản, nguyên vật liệu, công nghệ đều có thể mua hoặc vay 9 mƣợn đƣợc nhƣng nguồn nhân lực thì khó có thể làm điều tƣơng tự. Chính vì vậy vấn đề mà tất cả các quốc gia quan tâm hiện nay là vấn đề nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực. * Vai trò của chính phủ đối với sự tăng trưởng kinh tế Nhà nƣớc cũng là một nhân tố đặc biệt có ảnh hƣởng rất lớn đến sự tăng trƣởng cũng nhƣ phát triển kinh tế của một quốc gia.
Cho đến nay, mặc dù có rất nhiều dạng kinh tế thị trƣờng khác nhau, nhƣng trên thực tế, chƣa bao giờ tồn tại dạng kinh tế thị trƣờng không có nhà nƣớc, thoát ly khỏi nhà nƣớc, mặc dù về tƣ tƣởng và lý luận, những ngƣời theo trƣờng phái tự do cực đoan, hay theo phái vô chính phủ thƣờng phủ nhận vai trò của nhà nƣớc trong nền kinh tế thị trƣờng. Trong lịch sử các học thuyết kinh tế, tất cả các trƣờng phái kinh tế lớn đều đề cập đến vai trò của nhà nƣớc trong nền kinh tế thị trƣờng, từ trƣờng phái Trọng nông đến các trào lƣu kinh tế học hiện đại. Thị trƣờng có các khuyết tật vốn có của nó và vì thế điều tiết của nhà nƣớc là tất yếu khách quan nhằm đảm bảo sự ổn định, công bằng và hiệu quả của nền kinh tế. Trong báo cáo về tình hình phát triển kinh tế thế giới, Ngân hàng thế giới (Wold Bank) đã kết luận rằng: “Nhà nước đóng vai trò trung tâm trong phát triển kinh tế và xã hội; không phải với tư cách một người trực tiếp tạo ra sự tăng trưởng; mà là một đối tác, là chất xúc tác và là người tạo điều kiện cho sự tăng trưởng đó”.
* Đặc điểm dân tộc, tôn giáo, văn hóa của quốc gia - Đặc điểm dân tộc: các dân tộc sống chung trong một cộng đồng quốc gia thƣờng luôn có những đặc điểm khác nhau về văn hóa, kinh tế, tập quán sống và sản xuất. Nếu tăng trƣởng kinh tế đem lại lợi ích cho dân tộc này thì gây tổn hại lợi ích cho dân tộc khác mà cũng sẽ là lực cản cho sự tăng trƣởng và phát triển, sẽ khó tránh khỏi những xung đột về sắc tộc - Đặc điểm tôn giáo: Trong mỗi một quốc gia thƣờng có nhiều tôn giáo. Các tôn giáo thƣờng có quan niệm, triết lý, tƣ tƣởng riêng khó thay đổi. Các thiên kiến tôn giáo thƣờng tạo ra tâm lý xã hội biệt lập của tôn giáo mình.
Nếu các 10 chính sách đúng đắn thì có thể tạo ra sự hòa hợp giữa các tôn giáo, đây sẽ là nhân tố tích cực tác động tới sự tăng trƣởng và phát triển - Đặc điểm văn hóa: Văn hóa dân tộc là phạm trù rộng lớn bao trùm nhiều mặt, từ tri thức phổ thông, khoa học, văn hóa, nghệ thuật đến lối sống, tập quán, cách ứng xử và nó đƣợc hình thành và tích lũy trong suốt quá trình phát triển của dân tộc, đồng thời cũng gắn với việc tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Có thể nói trình độ văn hóa của một dân tộc là nhân tố cơ bản tạo ra chất lƣợng một đội ngũ lao động, nhân tố quyết định ảnh hƣởng tới chất lƣợng đội ngũ lao động. * Quan hệ kinh tế quốc tế Mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế là một đặc trƣng của quá trình tăng trƣởng hiện đại, đồng thời cũng là nhân tố thúc đẩy sự tăng trƣởng đó. Ngày nay, các quan hệ kinh tế quốc tế không chỉ dừng lại ở phạm vi liên quốc gia hay khu vực mà mang tính toàn cầu.