Luận văn thạc sĩ: Hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan

Luận văn thạc sĩ UEB phân tích hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan, nêu rõ cơ hội và thách thức trong lĩnh vực này.

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2012

101
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan

Hoạt động xuất khẩu lao động (XKLĐ) Việt Nam sang Đài Loan đã trở thành một phần quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước. Trong giai đoạn 2000-2010, số lượng lao động Việt Nam làm việc tại Đài Loan đã tăng đáng kể, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động. Theo số liệu từ Cục Quản lý lao động ngoài nước, trong giai đoạn này, có khoảng 237.643 lao động Việt Nam đã được đưa sang Đài Loan, chiếm 32,27% tổng số lao động xuất khẩu. Hoạt động này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cho cá nhân mà còn cho cả xã hội.

1.1. Tình hình xuất khẩu lao động Việt Nam sang Đài Loan

Thị trường lao động Đài Loan đã mở ra nhiều cơ hội cho lao động Việt Nam. Nhu cầu lao động tại Đài Loan ngày càng tăng, đặc biệt trong các lĩnh vực như xây dựng, sản xuất và dịch vụ. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động Việt Nam tìm kiếm việc làm và cải thiện đời sống.

1.2. Lợi ích của hoạt động xuất khẩu lao động

Hoạt động XKLĐ không chỉ giúp người lao động có thu nhập cao hơn mà còn tạo cơ hội học hỏi kinh nghiệm và nâng cao tay nghề. Số tiền gửi về từ lao động Việt Nam tại Đài Loan hàng năm ước tính khoảng 1,8 tỷ USD, góp phần quan trọng vào nền kinh tế quốc dân.

II. Những thách thức trong hoạt động xuất khẩu lao động sang Đài Loan

Mặc dù hoạt động XKLĐ mang lại nhiều lợi ích, nhưng cũng tồn tại nhiều thách thức. Các vấn đề như tình trạng lao động bỏ trốn, điều kiện làm việc không đảm bảo và chính sách pháp luật chưa đồng bộ đang gây khó khăn cho người lao động. Việc quản lý lao động tại Đài Loan cũng gặp nhiều khó khăn do thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng.

2.1. Tình trạng lao động bỏ trốn tại Đài Loan

Một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất là tình trạng lao động Việt Nam bỏ trốn khỏi nơi làm việc. Theo thống kê, tỷ lệ lao động bỏ trốn tại Đài Loan đang gia tăng, gây ảnh hưởng đến hình ảnh và uy tín của lao động Việt Nam.

2.2. Điều kiện làm việc và chính sách pháp luật

Nhiều lao động Việt Nam gặp khó khăn trong việc đảm bảo quyền lợi lao động. Điều kiện làm việc không đảm bảo, cùng với việc thiếu thông tin về quyền lợi và nghĩa vụ, khiến người lao động dễ bị lợi dụng.

III. Phương pháp cải thiện hoạt động xuất khẩu lao động sang Đài Loan

Để nâng cao hiệu quả của hoạt động XKLĐ, cần có những giải pháp đồng bộ từ phía chính phủ và các doanh nghiệp. Việc cải thiện chính sách pháp luật, tăng cường đào tạo và nâng cao nhận thức cho người lao động là rất cần thiết.

3.1. Cải thiện chính sách pháp luật về xuất khẩu lao động

Cần xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động XKLĐ, đảm bảo quyền lợi cho người lao động. Việc này sẽ giúp giảm thiểu tình trạng lao động bỏ trốn và nâng cao uy tín của lao động Việt Nam tại Đài Loan.

3.2. Tăng cường đào tạo và nâng cao kỹ năng cho lao động

Đào tạo nghề cho lao động trước khi xuất khẩu là rất quan trọng. Cần tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức pháp luật để người lao động có thể tự tin làm việc tại Đài Loan.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về xuất khẩu lao động

Nghiên cứu về hoạt động XKLĐ Việt Nam sang Đài Loan đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực. Các chỉ tiêu về thu nhập, việc làm và hiệu quả kinh tế xã hội đều cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của lĩnh vực này. Tuy nhiên, cần tiếp tục theo dõi và đánh giá để có những điều chỉnh kịp thời.

4.1. Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của hoạt động XKLĐ

Hoạt động XKLĐ đã góp phần quan trọng vào việc giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động. Số liệu cho thấy, thu nhập bình quân hàng tháng của lao động Việt Nam tại Đài Loan cao hơn nhiều so với trong nước.

4.2. Kinh nghiệm từ các nước khác trong hoạt động XKLĐ

Nghiên cứu kinh nghiệm của các nước như Philippines, Indonesia và Thái Lan trong hoạt động XKLĐ có thể giúp Việt Nam rút ra bài học quý giá để cải thiện hiệu quả hoạt động này.

V. Kết luận và định hướng tương lai cho hoạt động xuất khẩu lao động

Hoạt động XKLĐ Việt Nam sang Đài Loan đã và đang đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả hơn trong quản lý và đào tạo lao động.

5.1. Định hướng phát triển hoạt động XKLĐ trong tương lai

Cần xây dựng một chiến lược phát triển bền vững cho hoạt động XKLĐ, tập trung vào việc nâng cao chất lượng lao động và cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động.

5.2. Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực XKLĐ

Việc tăng cường hợp tác với các quốc gia có nhu cầu lao động sẽ mở ra nhiều cơ hội mới cho người lao động Việt Nam, đồng thời nâng cao vị thế của Việt Nam trên thị trường lao động quốc tế.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueb hoạt động xuất khẩu lao động việt nam sang đài loan

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1. Một số khái niệm cơ bản. Lao động, sức lao động và hàng hóa sức lao động. Lao động đƣợc hiểu là hoạt động có mục đích, có ý thức của con ngƣời nhằm tạo ra hàng hoá và dịch vụ.

* Sức lao động và hàng hoá sức lao động.Mác, sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực, thể lực và trí lực tồn tại trong một cơ thể, trong một con ngƣời đang sống và đƣợc ngƣời đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất. Trong bất kỳ xã hội nào, sức lao động cũng là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình sản xuất và lực lƣợng sản xuất sáng tạo chủ yếu của xã hội. “Sức lao động là một loại hàng hoá, tức nó gồm có giá trị và giá trị sử dụng, nhƣng nó không phải là hàng hoá thông thƣờng, mà sức lao động là một loại hàng hoá đặc biệt, bởi vì giá trị sử dụng của nó có đặc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị, hơn nữa sinh ra một giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó. Nhƣng sức lao động không phải bao giờ cũng là hàng hoá, nó chỉ biến thành hàng hoá trong những điều kiện lịch sử nhất định, tức ngƣời lao động phải đƣợc tự do về thân thể và ngƣời lao động bị tƣớc đoạt hết tƣ liệu sản xuất” [ 7, tr.

Nguồn nhân lực, di dân. * Nguồn nhân lực. Mỗi quốc gia muốn phát triển KT - XH thì nhất thiết phải có nguồn lực nhƣ con ngƣời, tài nguyên thiên nhiên, vốn, công nghệ, khoa hoc kỹ thuật.và trong các nguồn lực kể trên thì nguồn lực con ngƣời là quan trong nhất, có tính quyết định đến sự tăng trƣởng và phát triển KT- XH. Tức một quốc gia dù có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, công nghệ, máy móc kỹ thuật hiện đại đến đâu, nhƣng nếu không 7 có nguồn lực con ngƣời có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó thì khó có thể đạt đƣợc mục tiêu tăng trƣởng, phát triển KT - XH nhƣ mong muốn.

Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực, cụ thể là: Theo Liên hiệp quốc (UN) thì nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con ngƣời có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nƣớc. Theo Ngân hàng thế giới (WB) thì nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con ngƣời bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp. của mỗi cá nhân. Nhƣ vậy, ở đây nguồn nhân lực con ngƣời đƣợc coi nhƣ một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác nhƣ vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên.

Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những ngƣời trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. Từ những quan niệm trên, có thể hiểu khái niệm về nguồn nhân lực là toàn bộ lực lƣợng lao động gồm thể lực và trí lực của một quốc gia, đƣợc kết tinh từ truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của dân tộc đƣợc vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần đáp ứng nhu cầu hiện tại và tƣơng lai cho xã hội tại mỗi thời điểm nhất định của lịch sử. * Di dân, tính tất yếu của di dân. - Khái niệm di dân.

Trong đời sống xã hội tại mỗi một quốc gia hay giữa các quốc gia với nhau trên thế giới, con ngƣời thƣờng di chuyển chỗ ở (môi trƣờng sống), nơi làm việc, nó xuất phát từ nhiều nguyên nhân và mục đích khác nhau và vào các thời điểm khác nhau. Hiện tƣợng di chuyển trên có thể hiểu là di dân (di cƣ). Hiện tƣợng di dân bị tác động bởi nhiều nhân tố KT - XH. Xã hội càng phát triển, thì hiện tƣợng di dân cũng phát triển theo và ngày càng trở nên phổ biến, nó mang tính tất yếu khách quan.

+ “Di dân là sự di chuyển của ngƣời dân theo lãnh thổ với những giới hạn về thời gian và không gian nhất định, kèm theo sự thay đổi nơi cƣ trú thƣờng xuyên” [16, tr. 8 + “Di dân là quá trình di chuyển của con ngƣời qua biên giới của vùng lãnh thổ này sang vùng lãnh thổ khác kèm theo hiện tƣợng di chuyển chỗ ở thƣờng trú hoặc thay đổi tạm thời. Nếu sự di chuyển đó diễn ra trong phạm vi từng nƣớc thì gọi là di dân nội địa, còn nếu sự di chuyển đó vƣợt ra khỏi phạm vi mỗi nƣớc và mang tính chất liên quốc gia thì gọi là di dân quốc tế” [14, tr. “Di cƣ lao động quốc tế (international labor migration) là di chuyển lao động từ nƣớc này sang nƣớc khác với mục đích tìm việc làm, tiền lƣơng cao và cuộc sống tốt hơn” [ 26, tr.

- Tính tất yếu của di cƣ lao động quốc tế. Một là, do sự mất cân đối giữa cung - cầu về việc làm trong mỗi quốc gia dẫn đến di cƣ quốc tế. Tại một số nƣớc đang phát triển, có tỉ lệ dân số tăng cao, nguồn lực lƣợng lao động trong độ tuổi lao động dồi dào, trong khi sản xuất trong nƣớc còn chậm phát triển, chƣa thu hút đƣợc hết toàn bộ lực lƣợng lao động của xã hội. Do vậy, sức ép về việc làm tăng lên, đòi hỏi Chính phủ các nƣớc phải tìm đầu ra cho lực lƣợng lao động dƣ thừa để giảm tình trạng thất nghiệp.

Hai là, sự chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa các quốc gia trong cùng khu vực và trên thế giới ngày càng tăng trở thành lực hút dẫn đến hiện tƣợng di dân từ nƣớc có thu nhập và mức sống thấp sang các nƣớc có thu nhập, mức sống cao hơn. Lợi ích thu đƣợc của di cƣ quốc tế có thể tính đƣợc bằng mức tiền công và thu thập thực tế cao hơn do ngƣời di cƣ kiếm đƣợc trong suốt thời gian họ sinh sống và làm việc ở nƣớc ngoài. Ba là, chênh lệch về mức tăng dân số tự nhiên giữa các quốc gia trở thành “lực đẩy” di dân tất yếu sang nƣớc có mức tăng dân số thấp hơn. Bốn là, do tác động của toàn cầu hoá và nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của mỗi quốc gia.

Sự hình thành và phát triển của thị trƣờng lao động, XKLĐ và một số khái niệm liên quan. * Khái niệm thị trƣờng. 9 - Tƣ tƣởng về thị trƣờng đầu tiên phải kể đến các Nhà kinh tế theo chủ nghĩa trọng thƣơng, họ cho rằng hàng hoá chỉ là phƣơng tiện, là khâu trung gian để đạt đƣợc mục đích là tiền tệ. - Ngƣời ghi dấu ấn đậm nét trong nghiên cứu về thị trƣờng là Nhà kinh tế học cổ điển Anh, tiêu biểu là A.Smith, Ông đã phân tích phân công lao động đã tạo ra thị trƣờng và mục đích của thị trƣờng là để thu lợi nhuận, thị trƣờng chính là “bàn tay vô hình” điều khiển nền kinh tế.Smith là ngƣời đầu tiên phân chia thị trƣờng thành nhiều dạng khác nhau để nghiên cứu nhƣ thị trƣờng hàng hoá, thị trƣờng lao động, thị trƣờng tƣ bản.Mác kế thừa các lý thuyết cũ để xây dựng một học thuyết mới về thị trƣờng.Mác, thị trƣờng là lĩnh vực trao đổi và cao hơn là lƣu thông hàng hoá, Ông đã phân tích một cách sâu sắc quan hệ cung - cầu giá cả thị trƣờng và vai trò cạnh tranh đối với việc hình thành giá trị thị trƣờng.

- Nhà kinh tế học P.Samuelson: “thị trƣờng là một quá trình mà trong đó, ngƣời mua và ngƣời bán một thứ hàng hoá tác động qua lại lẫn nhau để xác định số lƣợng và giá cả hàng hoá” [27, tr. * Khái niệm thị trƣờng lao động. - Theo Đại từ điển kinh tế thị trƣờng đã trình bày khái niệm: “Thị trƣờng lao động là nơi mua, bán sức lao động của ngƣời lao động”. - Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO): Thị trƣờng lao động là thị trƣờng trong đó có các dịch vụ lao động đƣợc mua và bán thông qua quá trình để xác định mức độ việc làm của lao động cũng nhƣ mức độ tiền công.

Từ đó, có thể hiểu thị trƣờng lao động là những quan hệ trao đổi, mua bán sức lao động giữa ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động dƣới hình thức thoả thuận hoặc hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật diễn ra trong nƣớc và quốc tế. Thị trƣờng lao động là một bộ phận của hệ thống thị trƣờng, trong đó diễn ra quá trình trao đổi giữa một bên là ngƣời lao động tự do và một bên là ngƣời có nhu cầu sử dụng lao động. Sự trao đổi này đƣợc thoả thuận trên cơ sở mối quan hệ lao 10 động nhƣ tiền lƣơng, tiền công, thời giờ, điều kiện làm việc thông qua một hợp đồng làm việc bằng văn bản hay bằng miệng. * Thị trƣờng lao động quốc tế là nơi diễn ra quan hệ mua bán sức lao động trên quốc tế.

Ngƣời cung cấp và lƣợng nhu cầu sức lao động không thuộc về cùng một quốc gia, sức lao động vƣợt qua biên giới giữa các quốc gia. Thị trƣờng lao động quốc tế là một bộ phận cấu thành của hệ thống thị trƣờng thế giới. Nhƣ vậy, trên thị trƣờng lao động quốc tế, các chủ thể tham gia thị trƣờng lao động mang quốc tịch khác nhau. * Sự hình thành và phát triển của thị trƣờng hàng hoá sức lao động quốc tế.

Do sự phát triển không đồng đều về trình độ phát triển KT - XH, cũng nhƣ sự phân bố không đều về nguồn tài nguyên, dân cƣ, khoa học công nghệ giữa các vùng, khu vực và giữa các quốc gia, dẫn đến không một quốc gia nào lại có đầy đủ, đồng bộ các yếu tố cần thiết cho quá trình sản xuất và phát triển KT - XH. Từ đó, tất yếu sẽ dẫn đến việc các quốc gia phải tìm kiếm và sử dụng những nguồn lực bên ngoài để bù đắp một phần thiếu hụt các yếu tố cần thiết cho quá trình sản xuất xã hội. Thực tế cho thấy, tại các quốc gia kinh tế kém hoặc đang phát triển, có dân số đông, thiếu việc làm trong nƣớc, thu nhập bình quân thấp không đủ để đảm bảo cuộc sống của gia đình và chính ngƣời lao động. Để khắc phục tình trạng này, buộc các nƣớc này phải tìm kiếm việc làm tại các nƣớc khác để giải quyết tình trạng thiếu việc làm cho lực lƣợng lao động của nƣớc mình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ