phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo. Nội dung chính gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về hỗ trợ sinh kế của hộ nông dân sau thu hồi đất Chƣơng 2: Thực trạng hỗ trợ sinh kế cho hộ nông dân sau thu hồi đất ở Ninh Bình Chƣơng 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường hỗ trợ sinh kế cho hộ nông dân sau thu hồi đất ở Ninh Bình 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ HỖ TRỢ SINH KẾ CHO HỘ NÔNG DÂN SAU THU HỒI ĐẤT 1. Sinh kế hộ gia đình 1. Khái niệm Phƣơng pháp tiếp cận sinh kế là một trong các phƣơng pháp tiếp cận mới trong phát triển nông thôn nhằm không chỉ nâng cao mọi mặt đời sống hộ gia đình mà còn phát triển nông nghiệp, nông thôn theo xu hƣớng bền vững và hiệu quả.
Ngƣời đi đầu về nội dung sinh kế đó là Robert Chambers trong tác phẩm của ông vào những năm 1980 (sau đó đƣợc phát triển và hoàn thiện hơn nữa bởi Chamber, Conway và những ngƣời khác vào đầu những năm 1990). Từ đó một số cơ quan phát triển đã tiếp nhận khái niệm sinh kế và cố gắng đƣa vào thực hiện. Phƣơng pháp tiếp cận sinh kế đã đƣợc phát triển và hoàn thiện ở các nƣớc phát triển trên thế giới, dựa trên khuôn khổ cam kết hỗ trợ của Bộ phát triển quốc tế Anh (DFDI) về “Những chính sách và hành động cho việc xúc tiến các loại hình sinh kế bền vững”. Đây là một trong ba mục tiêu mà DFDI đã đặt ra trong Sách Trắng năm 1997 nhằm đạt đƣợc những mục đích chung về xoá đói giảm nghèo.
Theo khái niệm của DFID đƣa ra thì: “Một sinh kế có thể được miêu tả như là sự tập hợp các nguồn lực và khả năng con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ”. Theo khái niệm nêu trên thì chúng ta thấy sinh kế bao gồm toàn bộ những hoạt động của con ngƣời để đạt đƣợc mục tiêu dựa trên những nguồn lực sẵn có của con ngƣời nhƣ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các nguồn vốn, lao động, trình độ phát triển của khoa học công nghệ. Tiếp cận sinh kế là cách tƣ duy về mục tiêu, phạm vi và những ƣu tiên cho 9 phát triển nhằm đẩy nhanh tiến độ xoá nghèo. Đây là phƣơng pháp tiếp cận sâu rộng với mục đích nắm giữ và cung cấp các phƣơng tiện để tìm hiểu nguyên nhân và các mặt trọng của đói nghèo với trọng tâm tập trung vào một số yếu tố (nhƣ các vấn đề kinh tế, an ninh lƣơng thực).
Nó cũng cố gắng phác hoạ những mối quan hệ giữa các khía cạnh khác nhau của nghèo đói, giúp xác lập ƣu tiên tốt hơn cho những hoạt động xoá nghèo. Phƣơng pháp tiếp cận sinh kế có mục đích giúp ngƣời dân đạt đƣợc thành quả lâu dài trong sinh kế mà những kết quả đó đƣợc đo bằng các chỉ số do bản thân họ tự xác lập và vì thế họ sẽ không bị đặt ra bên ngoài. Điều đó thể hiện tính chất lấy ngƣời dân làm trung tâm. Phƣơng pháp này thừa nhận ngƣời dân có những quyền nhất định, cũng nhƣ trách nhiệm giữa họ với nhau và xã hội nói chung.
Phƣơng pháp tiếp cận sinh kế đƣợc sử dụng để xác định, thiết kế và đánh giá các chƣơng trình, dự án mới, sử dụng cho đánh giá lại các hoạt động hiên có, sử dụng để cung cấp thông tin cho việc hoạch định chiến lƣợc và sử dụng cho nghiên cứu. Một trong những điểm nổi trội của tiếp cận sinh kế là khả năng linh hoạt và khả năng áp dụng của chúng đối với nhiều tình huống. Chiến lƣợc sinh kế là quá trình ra quyết định về các vấn đề cấp hộ, bao gồm những vấn đề nhƣ thành phần của hộ, tính gắn bó giữa các thành viên, phân bổ các nguồn lực vật chất và phi vật chất của hộ (Seppala, 1996). Để duy trì hộ, hộ gia đình thƣờng có các chiến lƣợc sinh kế khác nhau, theo (Seppala, 1996) chiến lƣợc sinh kế có thể chia làm 3 loại: Chiến lƣợc tích luỹ: là chiến lƣợc dài hạn nhằm hƣớng tới tăng trƣởng và có thể là kết hợp của nhiều hoạt động hƣớng tới tích luỹ và giàu có.
Chiến lƣợc tái sản xuất: là chiến lƣợc trung hạn gồm nhiều hoạt động tạo thu nhập, những ƣu tiên có thể nhắm tới hoạt động của cộng đồng và an sinh xã hội. 10 Chiến lƣợc tồn tại: là chiến lƣợc ngắn hạn, gồm cả các hoạt động tạo thu nhập chỉ để tồn tại mà không tích luỹ.2 Khung sinh kế bền vững Khung sinh kế bền vững bao gồm những nhân tố chính ảnh hƣởng đến sinh kế của con ngƣời, và những mối quan hệ cơ bản giữa chúng. Nó có thể sử dụng để lên kế hoạch cho những hoạt động phát triển mới và đánh giá sự đóng góp vào sự bền vững sinh kế của những hoạt động hiện tại. Khung sinh kế bền vững có dạng nhƣ sau: Khả năng phục hồi sau sốc Thiết lập trạng thái cân bằng mới THU HỒI ĐẤT LÀ CƠ SỞ NGUỒN CÁC LỰA CHỌN KẾT QUẢ ĐẦU RA MỘT CÚ SỐC LỚN LỰC CỦA HỘ CỦA HỘ - Cuộc sống của hộ ra - Làm giảm đột ngột - Các hoạt động tạo sao? (cải thiện an ninh tài sản sinh kế chính: Các tài sản thu nhập lƣơng thƣc? Thu nhập Đất canh tác - Xây dựng năng tốt hơn? Giảm tính dễ (N, H, P, bị tổn thƣơng?) - Hộ nông dân không lực F, S) - Năng lực của hộ có còn sử dụng các kỹ - Các lựa chọn khác năng sản xuất nông đƣợc xem nhƣ quá đƣợc cải thiện? (sử dụng bền vững các nghiệp vốn có.
trình điều chỉnh và CƠ HỘI nguồn tài nguyên - Nhận số tiền đền bù thích ứng sau sốc thiên nhiên) lớn CÁC CHÍNH SÁCH VÀ XU Rủi ro và các rào cản HƢỚNG KINH TẾ VĨ MÔ khác Nguồn: Tham khảo từ tài liệu của ĐFI, 1999 Hình 2.1: Khung sinh kế bền vững Chú thích: N (Natural Capital): Nguồn lực tự nhiên H (Human Capital): Nguồn lực con ngƣời P (Physical Capital): Nguồn lực vật chất F (Financial Capital): Nguồn lực tài chính 11 S (Social Capital): Nguồn lực xã hội Đây là khung giúp cho ngƣời sử dụng hiểu đƣợc các loại hình sinh kế hiện hữu và dùng nó làm cơ sở để lập kế hoạch cho các hoạt động phát triển và các hoạt động khác. Điều này kéo theo việc phân tích và sử dụng nhiều loại công cụ hiện có nhƣ phân tích xã hội và phân tích các bên liên quan, các phƣơng pháp đánh giá nhanh và đánh giá kinh tế về: - Bối cảnh sống của ngƣời dân, trong đó bao gồm những ảnh hƣởng của các xu hƣớng bên ngoài với họ (xu hƣớng về kinh tế, xu hƣớng phát triển dân số). - Khả năng tiếp cận của ngƣời dân đối với các loại tài sản sinh kế và khả năng sử dụng chúng vào sản xuất. - Những thể chế, những chính sách và tổ chức định hình cho các loại hình tài sản sinh kế của ngƣời dân.
- Các chiến lƣợc mà ngƣời dân áp dụng để theo đuổi mục đích của mình. Khung sinh kế giúp ta sắp xếp những nhân tố gây cản trở hoặc tăng cƣờng các cơ hội sinh kế, đồng thời cho ta thấy cách thức chúng liên quan với nhau nhƣ thế nào. Nó không phải là mô hình chính xác trong thực tế mà nó chỉ đƣa ra một cách tƣ duy về sinh kế, nhìn nhận nó trên góc độ phức hợp và sâu rộng nhƣng vẫn trong khuôn khổ có thể quản lý đƣợc. Khung sinh kế luôn đƣợc đặt trong trạng thái động, nó không có điểm đầu, điểm cuối.
Giá trị của một khung sinh kế giúp cho ngƣời sử dụng nhìn nhận một cách bao quát và có hệ thống các tác nhân gây ra nghèo khổ và mối quan hệ giữa chúng. Có thể đó là những cú sốc và các xu hƣớng bất lợi, các chính sách và thể chế hoạt động kém hiệu quả hoặc việc thiếu cơ bản các tài sản sinh kế. Nghiên cứu kết quả sinh kế sẽ cho chúng ta hiểu đƣợc động lực nào dẫn tới các hoạt động mà họ đang thực hiện và những ƣu tiên của họ là gì. Đồng thời cũng cho thấy phản ứng của ngƣời dân trƣớc những cơ hội và nguy cơ mới.
Kết quả sinh kế thể hiện trên chỉ số nhƣ cuộc sống hƣng thịnh hơn, đời 12 sống đƣợc nâng cao, khả năng tổn thƣơng giảm, an ninh lƣơng thực đƣợc củng cố và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Do đó cần phải kết hợp và sử dụng khác nhau nhƣ đất đai, vốn, khoa học công nghệ. Các thành phần của khung sinh kế bền vững a, Hoàn cảnh dễ bị tổn thƣơng Hoàn cảnh dễ bị tổn thƣơng là môi trƣờng sống bên ngoài của con ngƣời. Sinh kế và tài sản sẵn có của con ngƣời bị ảnh hƣởng cơ bản bởi những xu hƣớng chủ yếu, cũng nhƣ bởi những cú sốc và tính thời vụ.
Chính những điều này khiến sinh kế và tài sản trở nên bị giới hạn và không kiểm soát đƣợc. Một số ví dụ về các nhân tố ảnh hƣởng đến tài sản và sinh kế của con ngƣời: - Xu hƣớng: xu hƣớng dân số, xu hƣớng tài nguyên kể cả xung đột, xu hƣớng kinh tế quốc gia, quốc tế, những xu hƣớng thể chế (bao gồm chính sách, những xu hƣớng kỹ thuật. - Tính thời vụ: biến động giá cả, sản xuất, sức khoẻ, những cơ hội làm việc. b, Những tài sản sinh kế Tiếp cận sinh kế cần tập trung trƣớc hết và đầu tiên với con ngƣời.
Nó cố gắng đạt đƣợc sự hiểu biết chính xác và thực tế về sức mạnh của con ngƣời (tài sản hoặc tài sản vốn) và cách họ cố gắng biến đổi chúng thành kết quả sinh kế hữu ích.2: Tài sản sinh kế của ngƣời dân Nguồn: http://www.org/info/guidance_sheets_rtfs/Sect2.rtf Khung sinh kế xác định 5 loại tài sản trung tâm mà dựa vào đó tạo ra những sinh kế: Nguồn vốn con ngƣời, nguồn vốn xã hội, nguồn vốn tự nhiên, nguồn vốn vật thể, nguồn vốn tài chính. 14 Nguồn vốn nhân lực Nguồn nhân lực bao gồm kỹ năng, kiến thức, khả năng lao động và sức khoẻ con ngƣời. Các yếu tố đó giúp cho con ngƣời có thể theo đuổi những chiến lƣợc tìm kiếm thu nhập khác nhau và đạt những mục tiêu kế sinh nhai của họ. Ở mức độ gia đình nguồn nhân lực đƣợc xem là số lƣợng và chất lƣợng nhân lực có sẵn.
Những thay đổi này phụ thuộc vào quy mô hộ, trình độ kỹ năng, khả năng lãnh đạo và bảo vệ sức khoẻ.