phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương, bao gồm: Chƣơng 1: Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về giải ngân dự án FDI ở Việt Nam Chƣơng 2: Thực trạng giải ngân các dự án FDI ở Việt Nam Chƣơng 3: Một số giải pháp đẩy nhanh tiến độ giải ngân dự án FDI ở Việt Nam trong thời gian tới. 12 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI NGÂN DỰ ÁN FDI Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm về vốn FDI và giải ngân vốn FDI 1. Các khái niệm về vốn (FDI) Vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) Hiện nay, có nhiều quan điểm và cách thức xác định về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), sau đây là một số định nghĩa về nguồn vốn FDI của một số tổ chức kinh tế thế giới và của Việt Nam đã được công bố sử dụng chính thức.
Có sự khác biệt trong cách xác định vốn FDI của Việt Nam và các tổ chức kinh tế thế giới. Theo định nghĩa của các tổ chức kinh tế và đầu tư trên thế giới bao gồm UNCTAD, WB, ADB, IMF: Dòng vốn FDI là nguồn tài chính do nhà đầu tư cấp trực tiếp cho công ty con và bao gồm 3 thành phần chính là vốn cổ phần, khoản tái đầu tư và các khoản vay từ công ty mẹ. Các nguồn tài chính khác như vốn góp và các khoản tái đầu tư của một công ty trong nước trong trường hợp dự án đó là liên doanh, hoặc các khoản vay thương mại từ các ngân hàng trong và ngoài nước không được coi là vốn FDI [24, tr.2] Có hai cách tính số vốn FDI, đó là (i) vốn FDI là tổng vốn đầu tư nước ngoài vào nước nhận đầu tư hay còn gọi là vốn FDI ròng, đây là cách tính theo thông lệ quốc tế. Khi lập cán cân thanh toán quốc tế thì dùng con số vốn FDI ròng mà không tính phần vốn phía nước chủ nhà góp thêm vào; hoặc (ii) vốn FDI là tính tổng vốn đầu tư đã thực hiện ở khu vực kinh tế có vốn FDI, đây là cách tính của Việt Nam.
Vốn đầu tư nước ngoài bao gồm vốn góp của phía chủ đầu tư nước ngoài và vốn góp của phía Việt Nam. Sau đây là một số ví dụ so sánh số vốn FDI theo cách tính của Việt Nam và các tổ chức kinh tế thế giới qua các số liệu được công bố chính thức và sử dụng 13 rộng rãi hiện nay. Trong khi các con số được đề cập đến nhiều nhất ở Việt Nam là số vốn FDI đăng kí, tiếp đến là số vốn FDI thực hiện; còn thế giới lại dùng số vốn FDI giải ngân để đánh giá dòng vốn FDI. Vốn FDI vào Việt Nam theo báo cáo của Việt Nam & thế giới Năm 2005 Tổng vốn (USD) FDI vào Việt Nam 6.8 tỷ Vốn thực hiện 3.3 tỷ FDI vào Việt Nam (thống kê ASEAN) 2.36 tỷ Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ KH&ĐT, Số liệu thống kê ASEAN (2006) Qua bảng số liệu trên cho thấy, các tổ chức thế giới sử dụng số vốn FDI thực hiện làm cơ sở báo cáo và đánh giá hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại một quốc gia, trong khi đó Việt Nam đánh giá khá cao theo số vốn FDI đăng kí.
Theo số liệu thống kê về vốn FDI thực hiện lũy kế trong giai đoạn 2000-2007 của Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ KH&ĐT Việt Nam là hơn 22,2 tỷ USD, trong khi số liệu mà UNCTAD công bố năm 2007 cho giai đoạn trên là 11,2 tỷ USD. Như vậy, ở đây có sự chênh lệch tới 11 tỷ USD - con số này bao hàm cả phần góp vốn của các công ty trong nước và các khoản vay thương mại. Hay theo các tổ chức quốc tế, năm 2007, vốn FDI thực tế vào Việt Nam là 2,8 tỷ USD, trong khi đó Tổng cục thống kê Việt Nam công bố chính thức là 6,4 tỷ USD [24, tr. Trong Luật Đầu của Việt Nam năm 2005 (kèm theo Nghị định 108/NĐ-CP hướng dẫn quy định Luật đầu tư) và của Tổng cục thống kê Việt Nam (2005), thì nguồn vốn FDI được định nghĩa và xác định như sau: - Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia hoạt động quản lý đầu tư.
- Vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp. - Vốn FDI bao gồm tất cả các nguồn vốn của một dự án đầu tư nước ngoài, nghĩa là bao gồm vốn cổ phần, các khoản tái đầu tư bao gồm phần vốn góp của đối 14 tác trong nước trong công ty liên doanh và tất cả các khoản vay, kể cả từ công ty mẹ và các khoản vay thương mại từ ngân hàng trong và ngoài nước. Đây là khái niệm được dùng để phân tích trong nghiên cứu này. Vốn đăng kí/ cam kết: Vốn đăng kí là tổng vốn FDI đăng kí theo giấy phép, bao gồm vốn tự có và vốn vay ngân hàng.
Vốn tự có bao gồm vốn nước ngoài và vốn góp của đối tác liên doanh trong nước. Vốn vay ngân hàng cũng gồm vay ngân hàng nước ngoài và vay ngân hàng trong nước. Vốn đăng kí là nguồn vốn cam kết của chủ đầu tư nước ngoài thực hiện dự án đầu tư vào nước chủ nhà. Sau đó, nhà đầu tư chuẩn bị các thủ tục cần thiết để thực hiện dự án như chuẩn bị dự án, giải phóng mặt bằng, thiết kế và thông thường phải mất một khoảng thời gian nhất định để triển khai đầu tư, đưa vốn vào hoạt động.
Vốn FDI cam kết là chỉ số để đánh giá mức độ quan tâm của các nhà đầu tư, và đánh giá môi trường đầu tư của nước nhận đầu tư. Vốn thực hiện Vốn thực hiện là số vốn mà các chủ đầu tư thực sự đã dùng để triển khai thực hiện dự án FDI, gồm đầu tư vào nhà xưởng, mua sắm thiết bị, mua sắm nguyên vật liệu, thuê nhân công … để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh theo tiến độ đã ghi trong hồ sơ dự án. Đối với hình thức liên doanh, vốn thực hiện có một phần là vốn góp của phía Việt Nam. Và trong phần vốn phía Việt Nam góp vào dự án có một phần đối ứng từ ngân sách, liên quan đến cấp phát của kho bạc Nhà nước.
Vốn thực hiện là một chỉ tiêu quan trọng cho biết tình hình thực hiện dự án FDI, cho thấy kết quả của việc bỏ vốn triển khai các công việc của dự án. Nâng cao tỷ lệ vốn thực hiện, giảm tỷ lệ vốn chưa thực hiện là vấn đề mà các nhà đầu tư và nước chủ nhà quan tâm nhiều nhất. Vốn thực hiện là số vốn đã thực hiện theo báo cáo, trong đó bao gồm cả vốn nước ngoài và vốn trong nước. Hai con số đăng kí và thực hiện được tổng hợp bởi cơ quan quản lý đầu tư của nước chủ nhà (Bộ KH&ĐT Việt Nam).
Nếu vốn thực hiện chiếm tỷ lệ càng cao so với tổng vốn đăng kí, chứng tỏ dự án đó đã thực hiện 15 được càng nhiều các công việc trong giai đoạn triển khai thực hiện dự án. Cách tiếp cận ở đây là phân tích, đánh giá tình hình thực hiện vốn đầu tư của dự án FDI, tìm ra nguyên nhân đang cản trở quá trình thực hiện dự án, giải ngân vốn FDI. Trên cơ sở đó, đề xuất biện pháp đẩy mạnh tiến độ thực hiện dự án FDI, nâng cao tỷ lệ giải ngân vốn FDI trong các dự án FDI ở Việt Nam. Giải ngân vốn FDI Khái niệm giải ngân vốn FDI Tỷ lệ vốn thực hiện, giải ngân vốn FDI được coi là một trong những tiêu chuẩn đánh giá mức độ thành công của quá trình thu hút vốn FDI của một quốc gia.
Trong khi đó, vốn đăng ký chỉ phản ánh giá trị đầu tư ước tính của dự án. Giải ngân vốn FDI là chỉ số đánh giá dòng vốn thực sự đầu tư từ nước ngoài vào nước nhận đầu tư và thể hiện trên cán cân thanh toán quốc tế, bao gồm số vốn của đối tác trong nước hay ngân hàng trong nước. Đánh giá giải ngân vốn FDI cần được xem xét trong một giai đoạn, thời kỳ xác định. Vốn giải ngân là vốn thanh toán cho các hạng mục đã đầu tư của dự án triển khai thực hiện tại nước chủ nhà.
Một dự án FDI sau khi được cấp phép đầu tư sẽ phải mất một khoảng thời gian nhất định để triển khai theo từng giai đoạn của dự án như trong hồ sơ cấp GPĐT. Xác định thời điểm dự án được cấp phép và thời gian triển khai thực hiện dự án, qua đó so sánh được mức độ thực hiện, giải ngân vốn FDI của dự án. Đối với dự án FDI có quy mô lớn, thời gian triển khai thực hiện dự án kéo dài, số vốn giải ngân cũng được chia theo các giai đoạn khác nhau. Nói tới vốn thực hiện, giải ngân vốn FDI, Việt Nam thường sử dụng số liệu báo cáo của các dự án và cơ quan quản lý đầu tư nước ngoài tại địa phương (Sở Kế hoạch và Đầu tư) để tổng hợp, trong khi các nước khác thường căn cứ vào lượng ngoại tệ được chuyển qua hệ thống ngân hàng.
Có sự khác biệt trong cách tính toán số vốn FDI thực hiện, giải ngân của Việt Nam và thế giới. Hiện nay, tại Việt Nam thống nhất dùng con số vốn đầu tư thực hiện và quy định vốn FDI đầu tư thực hiện cũng là vốn FDI giải ngân. 16 Quy trình, thủ tục giải ngân vốn FDI Giải ngân trong các dự án FDI là quá trình đưa vốn nước ngoài cùng vốn góp bên nước chủ nhà để thực hiện các công việc, hạng mục của dự án. Giải ngân vốn FDI có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, đóng vai trò quyết định đến sự thành công, hay thất bại của một dự án FDI.
Mục tiêu của nhà đầu tư là đưa dự án FDI vào hoạt động càng sớm càng tốt, nhằm hạn chế tối đa rủi ro có thể xảy ra, do những biến động của môi trường đầu tư và sử dụng tối đa hiệu quả của nguồn vốn.