Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỤC NGỮ VÀ VĂN HÓA 1. Khái quát chung về tục ngữ 1. Khái niệm tục ngữ 1. Tục ngữ theo quan điểm của người Việt Từ trước đến nay, ở Việt Nam trong khoa học nghiên cứu về tục ngữ có rất nhiều định nghĩa về thể loại này: Tục ngữ là thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức của nhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ, dễ truyền đạt, thường gieo vần lưng.
Nội dung tục ngữ thường phản ánh những kinh nghiệm về lao động sản xuất, ghi nhận các hiện tượng lịch sử xã hội, hoặc thể hiện triết lý dân gian của dân tộc. Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản xuất và đấu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác; được tách ra từ tác phẩm văn học dân gian hoặc ngược lại; được rút ra từ tác phẩm văn học bằng con đường dân gian hóa những lời hay ý đẹp hoặc từ sự vay mượn nước ngoài. Giữa hình thức và nội dung, tục ngữ có sự gắn bó chặt chẽ, một câu tục ngữ thường có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng. Tục ngữ có tính chất đúc kết, khái quát hóa những nhận xét cụ thể thành những phương châm, chân lý.
Hình tượng của tục ngữ là hình tượng ngữ ngôn được xây dựng từ những biện pháp so sánh, nhân hóa, ẩn dụ. Đa số tục ngữ đều có vần, gồm hai loại: vần liền và vần cách. Các kiểu ngắt nhịp: trên yếu tố vần, trên cơ sở vế, trên cơ sở đối ý, theo tổ chức ngôn ngữ thơ ca. Sự hòa đối là yếu tố tạo sự cân đối, nhịp nhàng, kiến trúc vững chắc cho tục ngữ.
Hình thức đối: đối thanh, đối ý. Tục ngữ có thể có 1 vế, chứa 1 phán đoán, nhưng cũng có thể gồm nhiều vế, chứa nhiều phán đoán. Các kiểu suy luận: liên hệ tương đồng, liên hệ không tương đồng, liên hệ tương phản, đối lập, liên hệ phụ thuộc hoặc liên hệ nhân quả. Nguyễn Văn Tố trong Tục ngữ ta đối với tục ngữ Tàu và tục ngữ Tây: Tục ngữ là câu nói quen trong thế tục, nhiều câu nghĩa lý thâm thúy, ý tứ sâu xa.
9 download by : skknchat@gmail.com Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu: Một câu tục ngữ tự nó phải có ý nghĩa, hoặc khuyên răn, hoặc chỉ bảo điều gì, còn thành ngữ chỉ là lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý, một trạng thái gì cho có màu mè [9, 27]. Vũ Ngọc Phan trong Tục ngữ ca dao dân ca: Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán. Thành ngữ là một bộ phận câu có sẵn mà nhiều người quen dùng nhưng tự riêng nó không diễn được một ý trọn vẹn. Tác giả Vũ Ngọc Phan trong công trình Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, năm 1985 đã định nghĩa: "Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt trọn ven một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một lý luận một công lý, có khi là một phê phán" [11, 27].
Trong bài viết Đạo lý trong tục ngữ đăng trên tạp chí Văn học, số 5 năm 1985, Nguyễn Đức Dân đã quan niệm: "Tục ngữ là những câu nói ổn định về cấu trúc, phản ánh những tri thức kinh nghiệm và quan niệm (dân gian) của một dân tộc về thế giới khách quan, tự nhiên cũng như xã hội" [3, 58 ]. Tác giả Hoàng Tiến Tựu trong công trình Văn học dân gian Việt Nam , tập 2 năm 1990 cho rằng "Tục ngữ là thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức, nêu lên những nhận xét, phán đoán, lời khuyên răn của nhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, giản dị, xúc tích, có nhịp điệu dễ nhớ, dễ truyền'' [25, 109]. Theo Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn trong Văn học dân gian Việt Nam do nhà xuất Nxb Giáo dục phát hành năm 1998 thì: "Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, có ý nghĩa hàm súc, do nhân dân lao động sáng tạo nên và lưu truyền qua nhiều thế kỷ" [10, 244]. Qua cách định nghĩa của các nhà nghiên cứu, ta có thể khái quát ngắn gọn về tục ngữ: Tục ngữ là đơn vị ngôn ngữ, có chức năng thông báo, có khả năng tạo câu một cách độc lập dưới dạng lời nói, hình thức của chúng tương đối ổn định, có ý nghĩa khái quát cao, do nhân dân lao động sáng tạo nên và lưu truyền qua nhiều thế kỷ.
Tục ngữ là tấm gương phản chiếu mọi biểu hiện của đời sống dân tộc, mọi quan niệm về đới sống nhân dân về các hiện tượng lịch sử xã hội về đạo đức, tôn 10 download by : skknchat@gmail. Nó là một thể loại văn học ra đời từ rất sớm, có số lượng phong phú và sức sống bền lâu trong lòng dân tộc. Trong đời sống và tư duy, tục ngữ giúp con người có những kinh nghiệm về cách nhìn nhận, bình giá, ứng xử thực hành về mọi phương diện của cuộc sống. Trong ngôn ngữ, tục ngữ làm đẹp, làm sâu sắc thêm lời nói, giúp mọi người diễn đạt cả những điều khó diễn đạt hoặc không tiện nói ra trực tiếp một cách hàm súc, bóng bẩy hơn.
Do đó tục ngữ là một di sản hết sức quý báu cần được lưu truyền và gìn giữ. Là sự đúc kết trí tuệ và tâm hồn nhân dân lao động, vì vậy những câu tục ngữ không chỉ là một phán đoán, một triết lý mà nó còn là một văn bản nghệ thuật có giá trị. Tục ngữ được ví như "túi khôn nhân gian","kho báu của trí tuệ nhân dân". Tục ngữ theo quan điểm của người Hán Trong giới nghiên cứu tục ngữ Hán, cũng như trong giới nghiên cứu tục ngữ tiếng Việt, các nhà Hán học cũng chưa có được một định nghĩa thống nhất, rõ ràng và cặn kẽ về tục ngữ.
Học giả Ôn Đoan Chính đã thừa nhận: “确定什么是俗语, 固然是个难题;怎样解释俗语,却是一个更难的课题”(Xác định thế nào là tục ngữ, đương nhiên là một vấn đề khó; Giải thích tục ngữ như thế nào, lại là một vấn đề còn khó hơn) [43, 47]. Thậm chí, ngay cả tên gọi cũng chưa có sự thống nhất, ngoài thuật ngữ tục ngữ, hàng loạt thuật ngữ như: thường là ngắn gọn, có hình ảnh, giàu tính ẩn dụ và phần lớn có vần điệu, có tính thơ (poetic).” Có thể định nghĩa này chưa phải là hoàn hảo nhưng nó thường được trích dẫn và được coi là một trong những định nghĩa tốt nhất bởi nó đã thể hiện được những thuộc tính cơ bản và điển hình cả về hình thức và nội dung của tục ngữ. Để có cái nhìn cụ thể hơn về cách hiểu khái niệm tục ngữ trong giới nghiên cứu tiếng Hán, dưới đây chúng tôi sẽ trình bày một số quan niệm về tục ngữ trong một số từ điển lớn của Trung Quốc và của một số học giả nghiên cứu ngôn ngữ nổi tiếng của Trung Quốc. 11 download by : skknchat@gmail.com 2)俗语就有以下三个特点: 1、具有群众性。俗语绝大多数是人民群众创造的,说不出具体的作者。 俗语既然是群众所创造的,自然为群众所喜闻乐见。 2、具有鲜明的口语性和通俗性。 俗语是通过群众世代口耳相传而流 传开的,所以口语性很强,总离不开一个“俗” 字。 3、具有相对的定型性。俗语不能是长篇,而是简明凝练的;也不是自 由组合的语句,而是约定俗成,具有定型性的特点。但俗语在结构上又有很 大的灵活性,同一个俗语可以有很多变体,有的可以调换部分词语,改变说 法;有的可以增加一部分,有的可以颠倒语序。所以俗语的定型性只能是相 对的,不是绝对的。 (Tục ngữ có ba đặc điểm sau: 1.
Vốn có tính quần chúng. Đại đa số tục ngữ là do quần chúng nhân dân sáng tạo ra, không có tác giả cụ thể. Tục ngữ do quần chúng nhân dân sáng tạo ra, đương nhiên được quần chúng thích nghe, thích nói. Vốn có tính khẩu ngữ và tính đại chúng một cách rõ ràng.
Tục ngữ được lưu truyền rộng rãi từ đời này sang đời khác qua lời ăn tiếng nói của quần chúng cho nên tính khẩu ngữ của nó rất mạnh, không thể tách rời chữ “tục”. Vốn có tính định hình tương đối. Tục ngữ không thể là trường thiên (đoạn văn dài), mà là những câu ngắn gọn súc tích; cũng không phải là những ngữ cú được tạo ra một cách tự do, mà được hình thành do thói quen của quần chúng từ lâu đời, có đặc điểm định hình. Về mặt kết cấu, tục ngữ lại có tính linh hoạt rất lớn, cùng một tục ngữ có thể có rất nhiều biến thể, có tục ngữ có thể thay đổi từng bộ phận tục ngữ, thay đổi cách nói; có tục ngữ lại có thể tăng thêm một bộ phận, có tục ngữ lại có thể thay đổi trật tự từ.
Cho nên tính định hình của tục ngữ chỉ là tương đối, không phải tuyệt đối. 3)什么是俗语:只要是语言通俗,反映出人民的心愿,记录了社会生 活和人生经验,这些话早已被群众广泛使用,道理深刻,意思新鲜,说得形 象生动简炼透辟,这样的语句一般是既定型而又灵活的,人们把它叫做俗语, 俗话,老俗话,大俗话。 12 download by : skknchat@gmail. Tục ngữ quả là một loại hình độc đáo về cấu trúc cũng như ngữ nghĩa trong ngôn ngữ, chính vì lẽ đó định nghĩa khái quát về tục ngữ cho thật đầy đủ, hoàn chỉnh mọi mặt không phải là chuyện đơn giản. Những định nghĩa về tục ngữ của các nhà Việt ngữ cũng như Hán ngữ nêu ở trên tuy có những nội dung cơ bản như nhau nhưng mỗi định nghĩa còn mang thêm nét riêng biệt cho dù là rất nhỏ.
Việc tìm ra một định nghĩa phản ánh đầy đủ những thuộc tính cơ bản của khái niệm là công việc không dễ, cần thời gian, và sự góp sức của nhiều người. Để đáp ứng nhiệm vụ mà luận văn đặt ra, chúng tôi xác lập một định nghĩa tạm thời làm cơ sở để khảo sát, nghiên cứu như sau: “Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, súc tích, giàu hình ảnh đúc kết kinh nghiệm, tri thức dân gian của một dân tộc về thế giới khách quan, tự nhiên cũng như xã hội, có tính cố định tương đối, chủ yếu do quần chúng nhân dân sáng tác”. Khái quát nội dung, nghệ thuật của tục ngữ 1.Khái quát về nội dung: a. Tục ngữ Việt: Tục ngữ phản ánh những nhận định, quan niệm của nhân dân về lao động về các hiện tượng lịch sử xã hội, về tư tưởng, đạo đức, các hiện tượng tự nhiên, kinh nghiệm sản xuất.
- Phản ánh những kinh nghiệm về lao động sản xuất: Tục ngữ về lao động sản xuất phản ánh một số nét chính điều kiện và phương thức lao động của nhân dân, phản ánh đặc điểm đời sống dân tộc. Những kinh nghiệm về lao động sản xuất được đúc kết trong quá trình khắc phục thiên nhiên của nhân dân lao động phổ biến rộng rãi, trở thành tri thức khoa học kỹ thuật dân gian. Ví dụ 13 download by : skknchat@gmail.com như những kinh nghiệm về quy luật diễn biến của thời tiết khí hậu: Mây thành vừa hanh vừa giá; Trăng quầng trời hạn, trăng tán trời mưa. Trong quá trình lao động sản xuất ở các ngành nghề nông nghiệp, ngư nghiệp, một số nghề thủ công lâu đời, nhân dân cũng đã đúc kết được rất nhiều kinh nghiệm.