Luận văn thạc sĩ: Tục ngữ Việt và Hán về văn hóa ứng xử gia đình - DING ZHENG DONG

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tục ngữ người việt và tục ngữ người hán về văn hóa ứng xử trong gia đình, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải thiện thực

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2020

94
6
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

5. Phương pháp nghiên cứu

6. Đóng góp của luận văn

7. Bố cục luận văn

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỤC NGỮ VÀ VĂN HÓA

1.1. Khái quát chung về tục ngữ

1.2. Khái niệm tục ngữ

1.3. Khái quát nội dung, nghệ thuật của tục ngữ

1.4. Khái niệm ứng xử và văn hóa ứng xử

1.5. Khái niệm về văn hóa

1.6. Văn hóa ứng xử trong gia đình

1.7. Gia đình truyền thống của người Việt

1.8. Gia đình truyền thống của người Hán

1.9. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: TỤC NGỮ NGƯỜI VIỆT VỀ VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG GIA ĐÌNH

2.1. Tổng hợp và phân loại các kiểu quan hệ ứng xử trong gia đình

2.2. Các kiểu quan hệ ứng xử và ví dụ minh họa

2.3. Quan hệ ứng xử cha mẹ - con cái

2.4. Quan hệ ứng xử vợ - chồng

2.5. Quan hệ ứng xử anh, chị, em

2.6. Các quan hệ họ hàng gia tộc khác

2.7. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: TỤC NGỮ NGƯỜI HÁN VỀ VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG GIA ĐÌNH

3.1. Tổng hợp và phân loại các kiểu quan hệ ứng xử trong gia đình

3.2. Các kiểu quan hệ ứng xử và ví dụ minh họa

3.3. Quan hệ ứng xử cha mẹ - con cái

3.4. Quan hệ ứng xử vợ - chồng

3.5. Quan hệ ứng xử anh, chị, em ruột

3.6. Các quan hệ họ hàng gia tộc khác

3.7. Tiểu kết chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Luận Văn Thạc Sĩ Về Tục Ngữ Và Gia Đình

Luận văn thạc sĩ khai thác kho tàng tục ngữ người Việttục ngữ người Hán để soi chiếu văn hóa ứng xử trong gia đình. Nghiên cứu so sánh tục ngữ hai nền văn hóa, làm nổi bật những điểm tương đồng và khác biệt trong quan niệm gia đìnhđạo đức gia đình. Tục ngữ, vốn là tinh hoa văn hóa, không chỉ phản ánh đời sống mà còn là lăng kính thể hiện truyền thống gia đìnhảnh hưởng văn hóa sâu sắc. Việc nghiên cứu tục ngữ là chìa khóa để hiểu rõ hơn về văn hóa Việt Namvăn hóa Trung Quốc, đặc biệt trong bối cảnh ứng xử trong gia đình Việt Namứng xử trong gia đình Trung Quốc. Luận văn tập trung phân tích giá trị văn hóatư tưởng đạo đức ẩn chứa trong những câu nói dân gian, góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị tốt đẹp trong quan hệ gia đình. Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành, tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa, so sánh văn học, phân tích tác phẩm, tổng hợp, thống kê - phân loại, mô tả. Luận văn nhấn mạnh đến cơ sở địa lý, lịch sử, văn hóa, xã hội của mối quan hệ Việt - Trung. Luận văn góp phần giúp cho nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Hoa hiểu nhau hơn, nhằm góp phần quảng bá nền văn hoá của mỗi nước và thúc đẩy mối quan hệ láng giềng đặc biệt Việt - Trung ngày càng phát triển.

1.1. Mục Tiêu Và Phạm Vi Nghiên Cứu Trong Luận Văn Thạc Sĩ

Luận văn thạc sĩ tập trung làm rõ một số vấn đề lý thuyết về tục ngữ hai nước Việt - Trung, khảo sát, thống kê những câu tục ngữ viết về chủ đề gia đình. Tìm hiểu nội dung của những câu tục ngữ Việt và tục ngữ Hán đúc rút những kinh nghiệm ứng xử của con người trong gia đình. Thấy được sự tương đồng và khác biệt của văn hóa ứng xử của người Việt và người Hán thể hiện qua tục ngữ cũng như các nguyên nhân của sự giống nhau và khác nhau đó. Luận văn khảo sát tục ngữ Việt và tục ngữ Hán để tổng hợp tất cả những câu tục ngữ viết về văn hóa ứng xử trong gia đình. Từ đó, chúng tôi tiến hành phân loại các câu tục ngữ trên theo các chủ đề cụ thể. Tìm hiểu về cách ứng xử trong gia đình của người Việt và người Hán được thể hiện qua những câu tục ngữ. Chỉ ra được nét đẹp về cách ứng xử trong gia đình của người dân Việt Nam cũng như người dân Trung Hoa được gửi gắm trong những câu tục ngữ. Đồng thời, chúng tôi cũng chỉ ra sự giống nhau cũng như nét riêng của cách ứng xử trong gia đình người Việt Nam và người Trung Hoa. Cũng từ đó, chúng tôi cũng chỉ ra nét riêng của bức tranh văn hóa cũng như sự giao thoa văn hóa của hai dân tộc được thể hiện qua tục ngữ.

1.2. Phương Pháp Nghiên Cứu Và Đóng Góp Của Luận Văn Thạc Sĩ

Luận văn sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu chính sau đây: Phương pháp nghiên cứu liên ngành; Phương pháp tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa; Phương pháp so sánh văn học. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, chúng tôi cũng sử dụng kết hợp các thao tác khác như: Phương pháp phân tích tác phẩm, tổng hợp, Phương pháp thống kê - phân loại, phương pháp mô tả. Luận văn đã chỉ ra một cách có hệ thống và làm sáng tỏ một số nét cơ bản của sự giống và khác nhau về mặt nội dung và nghệ thuật thể hiện cách ứng xử trong gia đình qua tục ngữ của người Việt Nam và người Trung Hoa, đồng thời đã sơ bộ lý giải nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt đó. Cách tiếp cận của chúng tôi với tư duy bối cảnh là đóng góp của công trình nghiên cứu khi so sánh tục ngữ hai nước được đặt trong nền văn hóa mỗi nước. Ngoài việc góp phần khẳng định tính độc lập của mỗi dân tộc, chúng tôi còn nhấn mạnh đến cơ sở địa lý, lịch sử, văn hóa, xã hội của mối quan hệ Việt - Trung.

II. Khái Niệm Chung Về Tục Ngữ Ứng Xử Và Văn Hóa Ứng Xử

Trong nghiên cứu tục ngữ, việc làm rõ các khái niệm cơ bản là vô cùng quan trọng. Tục ngữ được hiểu là những câu nói ngắn gọn, súc tích, đúc kết kinh nghiệm và tri thức dân gian. Ứng xử là cách con người phản ứng và hành động trong các tình huống giao tiếp, thể hiện thái độ và văn hóa. Văn hóa ứng xử là hệ thống các giá trị, chuẩn mực xã hội điều chỉnh hành vi của con người trong các mối quan hệ gia đình, xã hội, và môi trường. Việc hiểu rõ những khái niệm này là nền tảng để phân tích và so sánh các giá trị văn hóa được thể hiện trong tục ngữ người Việttục ngữ người Hán. Khái niệm văn hóa gia đình có thể được hiểu là hệ thống những giá trị, chuẩn mực đặc thù điều tiết mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình và giữa gia đình với xã hội, phản ánh bản chất của các hình thái gia đình đặc trưng cho các cộng đồng, các tộc người được hình thành và phát triển qua lịch sử lâu dài của đời sống gia đình, gắn liền với những điều kiện phát triển kinh tế, môi trường tự nhiên và xã hội.

2.1. Tục Ngữ Theo Quan Điểm Của Người Việt Và Người Hán

Tục ngữ là thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức của nhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ, dễ truyền đạt, thường gieo vần lưng. Nội dung tục ngữ thường phản ánh những kinh nghiệm về lao động sản xuất, ghi nhận các hiện tượng lịch sử xã hội, hoặc thể hiện triết lý dân gian của dân tộc. Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản xuất và đấu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác; được tách ra từ tác phẩm văn học dân gian hoặc ngược lại; được rút ra từ tác phẩm văn học bằng con đường dân gian hóa những lời hay ý đẹp hoặc từ sự vay mượn nước ngoài. Giữa hình thức và nội dung, tục ngữ có sự gắn bó chặt chẽ, một câu tục ngữ thường có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng. Tục ngữ có tính chất đúc kết, khái quát hóa những nhận xét cụ thể thành những phương châm, chân lý. Trong giới nghiên cứu tục ngữ Hán, cũng như trong giới nghiên cứu tục ngữ tiếng Việt, các nhà Hán học cũng chưa có được một định nghĩa thống nhất, rõ ràng và cặn kẽ về tục ngữ. Để đáp ứng nhiệm vụ mà luận văn đặt ra, chúng tôi xác lập một định nghĩa tạm thời làm cơ sở để khảo sát, nghiên cứu như sau: “Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, súc tích, giàu hình ảnh đúc kết kinh nghiệm, tri thức dân gian của một dân tộc về thế giới khách quan, tự nhiên cũng như xã hội, có tính cố định tương đối, chủ yếu do quần chúng nhân dân sáng tác”.

2.2. Khái Niệm Văn Hóa Ứng Xử Trong Gia Đình Theo Truyền Thống

Văn hóa ứng xử là tập hợp những nét đẹp thể hiện qua các thái độ, hành động phân xử, thế ứng xử, đối ứng với một thái độ, hành vi khác thể hiện triết lý sống, các lối sống, lối suy nghĩ, lối hành động của một cá nhân, một cộng đồng người trong việc trong việc ứng xử và giải quyết những mối quan hệ gia đình giữa con người với tự nhiên, với xã hội từ nhỏ đến lớn. Văn hoá ứng xử có vai trò rất quan trọng trong đời sống thường nhật và đời sống tâm linh của dân tộc Việt Nam nói riêng và của nhân loại nói chung. Nét đặc trưng nổi bật nhất của văn hoá ứng xử là hành vi ứng xử của con người với cá nhân với cá nhân, với cộng đồng xã hội và với chính bản thân mình. Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi nghiên cứu vấn đề sự thể hiện văn hóa ứng xử gia đình trong tục ngữ của người Việt và tục ngữ của người Hán. Gia đình là tế bào của xã hội, nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

III. Tục Ngữ Người Việt Về Văn Hóa Ứng Xử Trong Gia Đình

Tục ngữ người Việt là kho tàng văn hóa ứng xử phong phú, đặc biệt trong gia đình. Tục ngữ ghi lại cách ứng xử giữa các thành viên, phản ánh giá trị đạo đức, truyền thống gia đình, và quan hệ gia đình. Các câu tục ngữ về quan hệ cha mẹ - con cái, quan hệ vợ chồng, và quan hệ anh chị em không chỉ là những lời khuyên răn mà còn là những bài học sâu sắc về cách xây dựng một gia đình hạnh phúc và hòa thuận. Nghiên cứu các câu tục ngữ này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về ảnh hưởng văn hóa đến cách ứng xử trong gia đình Việt Nam.

3.1. Quan Hệ Ứng Xử Cha Mẹ Con Cái Yêu Thương Và Dạy Dỗ

Tục ngữ người Việt có những câu ca ngợi công lao cha mẹ: Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Chính vì vậy, bên cạnh những làn điệu du dương của ca dao khắc ghi công lao cao dày của cha mẹ đối với con cái thì tục ngữ Việt Nam cũng có có những câu ca tương tự như thế: Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng; Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng bể. Chính vì vậy, bên cạnh những làn điệu du dương của ca dao khắc ghi công lao cao dày của cha mẹ đối với con cái thì tục ngữ Việt Nam cũng có có những câu ca tương tự như thế: Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng; Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng bể. Bên cạnh đó, Tục ngữ đúc kết lại: Nuôi con chẳng dạy chẳng răn Thà rằng nuôi lợn mà chăn lấy tiền Đó là câu cửa miệng mà những bậc làm cha làm mẹ người Việt luôn nhắc nhở nhau và răn dạy con cháu. Vì nuôi con không dạy dỗ, con hư hỏng, trở thành người có hại cho xã hội thì cha mẹ cũng không vui vẻ, thậm chí còn nhận lại sự cay đắng, tủi nhục với tiếng xấu mà con mình gây ra. Dạy con như vần cơm chín. Mọi người đều biết, khi vần nồi cơm, phần nào của nồi gần với lửa thì phần đó cơm sẽ chín trước. Và để cơm chín hết cả nồi, người nấu cơm phải liên tục xoay các phần còn lại của nồi cơm vào phía bếp cho cơm chín toàn bộ. Tuy nhiên, thời gian để một phần nồi cơm tiếp xúc với lửa trong bếp không quá lâu, nếu không cơm sẽ cháy và nồi sẽ đen và không ăn được. Đối ứng sang việc dạy con, tác giả dân gian truyền lại việc dạy con cần phải từ từ, dần dần và phải có sự kết hợp nhu - cương hài hòa. Mọi mặt phát triển của con đều phải được uốn nắn dần dần, sai đâu sửa đó, không quá ép cũng không quá nới lỏng. Có như vậy, việc dạy dỗ con cái mới có hiệu quả.

3.2. Ứng Xử Vợ Chồng Tình Nghĩa Vẹn Toàn Thuận Hòa Hạnh Phúc

Người Việt Nam có câu: Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn. Tục ngữ cũng phản ánh sâu sắc về quan hệ vợ chồng, nhấn mạnh đến sự hòa thuận và chung thủy: 'Đồng vợ đồng chồng tát biển Đông cũng cạn', và 'Chồng giận thì vợ bớt lời, cơm sôi nhỏ lửa cả đời không khê'. Tục ngữ Việt Nam cũng phản ánh những mong muốn có một gia đình hạnh phúc, êm ấm, tránh những bất hòa không đáng có: Chồng giận thì vợ bớt lời, cơm sôi nhỏ lửa cả đời không khê. Hoặc, nếu có xích mích, nên giải quyết sớm để tránh hậu quả đáng tiếc: Chồng giận vợ làm lành, giận nhau chẳng mấy chốc hóa tình thương yêu.

3.3. Ứng Xử Anh Chị Em Kính Trên Nhường Dưới Yêu Thương Đùm Bọc

Tục ngữ Việt Nam phản ánh cách ứng xử tốt đẹp, kính trọng và yêu thương giữa anh chị em trong gia đình: Anh em như thể tay chân, rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần. Câu tục ngữ này thể hiện sự gắn bó, yêu thương, đùm bọc của anh chị em trong gia đình. Họ phải biết nhường nhịn, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống. Máu chảy ruột mềm. Không ai muốn tay chân mình bị đau cả. Anh em sống hòa thuận thì gia đình mới yên ấm được.Tục ngữ cũng cho thấy các mối quan hệ máu mủ ruột thịt không gì có thể chia cắt hay so sánh bằng: Cắt dây bầu dây bí/Chẳng ai cắt dây chị dây em. Chính vì lẽ đó, người Việt luôn coi trọng quan hệ gia đình huyết thống.

IV. Tục Ngữ Người Hán Về Văn Hóa Ứng Xử Trong Gia Đình

Tương tự như tục ngữ người Việt, tục ngữ người Hán cũng phản ánh những giá trị văn hóa và cách ứng xử trong gia đình. Tuy nhiên, do sự khác biệt về lịch sử và văn hóa, tục ngữ người Hán có những đặc điểm riêng. Nghiên cứu và so sánh tục ngữ hai nền văn hóa giúp chúng ta hiểu rõ hơn về ảnh hưởng văn hóa đến cách ứng xử trong gia đình Trung Quốc, cũng như những điểm tương đồng và khác biệt trong quan niệm gia đìnhđạo đức gia đình giữa Việt Nam và Trung Quốc.

4.1. Quan Hệ Cha Mẹ Con Cái Hiếu Thảo Và Kính Trọng

Cũng giống như tục ngữ của người Việt, tục ngữ của người Hán còn có nội dung nói về truyền thống văn hóa dân tộc với những triết lý sống rất chân thực, sống động và mang nhiều ý nghĩa. Ví dụ: 百艺通, 不如一艺精 (bách nghệ thông, bất như nhất nghệ tinh), có nghĩa: Biết trăm nghề không bằng giỏi một nghề. Câu tục ngữ giúp người đọc liên tưởng tới câu: Một nghề thì sống đống nghề thì chết, của người Việt. Câu tục ngữ đã cho thấy sự tương đồng trong lối suy nghĩ của người dân hai nước với hai nền văn hóa khác nhau nhưng có sự giao thoa văn hóa.Câu tục ngữ sau cũng có hiện tượng trùng lặp ý như vậy: 良药苦口利于病, 忠言逆耳利于行 (lương dược khổ khẩu lợi vu bệnh, trung ngôn nghịch nhĩn lợi vu hành), có nghĩa: Thuốc đắng miệng có lợi cho bệnh, lời nói thẳng khó lọt tai có lợi cho hành động (Thuốc đắng giã tật, sự thật mất lòng).

4.2. Quan Hệ Vợ Chồng Tôn Trọng Và Hỗ Trợ Lẫn Nhau

Một số câu tục ngữ tiêu biểu như: 夫唱妇随 (phu xướng phụ tùy), có nghĩa: chồng hát vợ phụ họa theo, cũng nhấn mạnh vai trò của người phụ nữ trong gia đình. 夫妻同心, 其利断金 (phu thê đồng tâm, kỳ lợi đoạn kim), có nghĩa: Vợ chồng đồng lòng, thì lợi cả kim loại đứt. Điều này cho thấy, khi hai vợ chồng hòa thuận, thống nhất thì sức mạnh của họ là vô cùng lớn.

4.3. Quan Hệ Anh Chị Em Hòa Thuận Và Giúp Đỡ

Câu tục ngữ: 兄弟同心, 其利断金 (huynh đệ đồng tâm, kỳ lợi đoạn kim), có nghĩa: Anh em đồng lòng, thì lợi cả vàng cũng đứt. Đề cao sự đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau giữa anh chị em. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc xây dựng các mối quan hệ gia đình trong xã hội.

V. So Sánh Tục Ngữ Việt Hán Về Ứng Xử Tương Đồng Và Khác Biệt

Phân tích so sánh tục ngữ Việt Nam và Trung Quốc về văn hóa ứng xử trong gia đình cho thấy những điểm tương đồng và khác biệt đáng chú ý. Cả hai đều đề cao giá trị đạo đức, truyền thống gia đình, và quan hệ gia đình. Tuy nhiên, do sự khác biệt về lịch sử và văn hóa, cách thể hiện và nhấn mạnh các giá trị này có những khác biệt nhất định. Việc đối chiếu văn hóa thông qua tục ngữ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về ảnh hưởng văn hóa đến cách ứng xử trong gia đình ở mỗi quốc gia.

5.1. Điểm Tương Đồng Trong Quan Niệm Về Gia Đình Và Đạo Đức

Tục ngữ Việt và Hán đều đề cao lòng hiếu thảo với cha mẹ: Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng; Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng bể - 树欲静而风不止, 子欲养而亲不待 (Thụ dục tĩnh nhi phong bất chỉ, tử dục dưỡng nhi thân bất đãi): nghĩa là Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng, con muốn nuôi dưỡng cha mẹ thì cha mẹ không còn. Lòng hiếu thảo là một trong những giá trị đạo đức quan trọng nhất trong văn hóa cả hai nước. Tục ngữ Việt và Hán đều đề cao sự hòa thuận trong gia đình và sự chung thủy trong quan hệ vợ chồng.

5.2. Điểm Khác Biệt Trong Cách Thể Hiện Và Nhấn Mạnh

Một số câu tục ngữ của người Hán nói về việc cai quản gia đình: 修身, 齐家, 治国, 平天下 (Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ) (tu thân, làm cho gia đình mình tốt, quản lý đất nước, giữ cho thiên hạ thái bình). Trong gia đình truyền thống của người Hán, người cha có vai trò quan trọng trong việc đưa ra quyết định và duy trì trật tự trong gia đình. Khác với người Hán, trong tục ngữ của người Việt lại không thấy đề cao việc cai quản gia đình.

VI. Ứng Dụng Thực Tiễn Giá Trị Nghiên Cứu Luận Văn Về Tục Ngữ

Luận văn thạc sĩ không chỉ là một công trình nghiên cứu tục ngữ mà còn mang lại những ứng dụng thực tiễn quan trọng. Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng trong việc giảng dạy văn học, văn hóa, và ngôn ngữ, cũng như trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Nghiên cứu này cũng góp phần tăng cường sự hiểu biết và giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và Trung Quốc, thúc đẩy mối quan hệ láng giềng tốt đẹp giữa hai nước.

6.1. Góp Phần Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Văn Hóa Truyền Thống

Nghiên cứu tục ngữ Việt và Hán có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn về giá trị đạo đứctruyền thống gia đình, từ đó có ý thức hơn trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị này trong xã hội hiện đại. Ví dụ, tục ngữ 'Uống nước nhớ nguồn' nhắc nhở chúng ta luôn biết ơn những người đã tạo ra những thành quả mà chúng ta đang được hưởng, từ đó có trách nhiệm hơn trong việc bảo vệ và phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc.

6.2. Ứng Dụng Trong Giảng Dạy Và Nghiên Cứu Ngôn Ngữ Văn Hóa

Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc giảng dạy và nghiên cứu ngôn ngữ, văn hóa Việt Nam và Trung Quốc. Ví dụ, phân tích so sánh tục ngữ hai nước có thể giúp sinh viên hiểu rõ hơn về những điểm tương đồng và khác biệt trong tư duy và văn hóa của hai dân tộc, từ đó nâng cao khả năng giao tiếp và làm việc trong môi trường đa văn hóa.

02/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỤC NGỮ VÀ VĂN HÓA 1. Khái quát chung về tục ngữ 1. Khái niệm tục ngữ 1. Tục ngữ theo quan điểm của người Việt Từ trước đến nay, ở Việt Nam trong khoa học nghiên cứu về tục ngữ có rất nhiều định nghĩa về thể loại này: Tục ngữ là thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức của nhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ, dễ truyền đạt, thường gieo vần lưng.

Nội dung tục ngữ thường phản ánh những kinh nghiệm về lao động sản xuất, ghi nhận các hiện tượng lịch sử xã hội, hoặc thể hiện triết lý dân gian của dân tộc. Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản xuất và đấu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác; được tách ra từ tác phẩm văn học dân gian hoặc ngược lại; được rút ra từ tác phẩm văn học bằng con đường dân gian hóa những lời hay ý đẹp hoặc từ sự vay mượn nước ngoài. Giữa hình thức và nội dung, tục ngữ có sự gắn bó chặt chẽ, một câu tục ngữ thường có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng. Tục ngữ có tính chất đúc kết, khái quát hóa những nhận xét cụ thể thành những phương châm, chân lý.

Hình tượng của tục ngữ là hình tượng ngữ ngôn được xây dựng từ những biện pháp so sánh, nhân hóa, ẩn dụ. Đa số tục ngữ đều có vần, gồm hai loại: vần liền và vần cách. Các kiểu ngắt nhịp: trên yếu tố vần, trên cơ sở vế, trên cơ sở đối ý, theo tổ chức ngôn ngữ thơ ca. Sự hòa đối là yếu tố tạo sự cân đối, nhịp nhàng, kiến trúc vững chắc cho tục ngữ.

Hình thức đối: đối thanh, đối ý. Tục ngữ có thể có 1 vế, chứa 1 phán đoán, nhưng cũng có thể gồm nhiều vế, chứa nhiều phán đoán. Các kiểu suy luận: liên hệ tương đồng, liên hệ không tương đồng, liên hệ tương phản, đối lập, liên hệ phụ thuộc hoặc liên hệ nhân quả. Nguyễn Văn Tố trong Tục ngữ ta đối với tục ngữ Tàu và tục ngữ Tây: Tục ngữ là câu nói quen trong thế tục, nhiều câu nghĩa lý thâm thúy, ý tứ sâu xa.

9 download by : skknchat@gmail.com Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu: Một câu tục ngữ tự nó phải có ý nghĩa, hoặc khuyên răn, hoặc chỉ bảo điều gì, còn thành ngữ chỉ là lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý, một trạng thái gì cho có màu mè [9, 27]. Vũ Ngọc Phan trong Tục ngữ ca dao dân ca: Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán. Thành ngữ là một bộ phận câu có sẵn mà nhiều người quen dùng nhưng tự riêng nó không diễn được một ý trọn vẹn. Tác giả Vũ Ngọc Phan trong công trình Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, năm 1985 đã định nghĩa: "Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt trọn ven một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một lý luận một công lý, có khi là một phê phán" [11, 27].

Trong bài viết Đạo lý trong tục ngữ đăng trên tạp chí Văn học, số 5 năm 1985, Nguyễn Đức Dân đã quan niệm: "Tục ngữ là những câu nói ổn định về cấu trúc, phản ánh những tri thức kinh nghiệm và quan niệm (dân gian) của một dân tộc về thế giới khách quan, tự nhiên cũng như xã hội" [3, 58 ]. Tác giả Hoàng Tiến Tựu trong công trình Văn học dân gian Việt Nam , tập 2 năm 1990 cho rằng "Tục ngữ là thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức, nêu lên những nhận xét, phán đoán, lời khuyên răn của nhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, giản dị, xúc tích, có nhịp điệu dễ nhớ, dễ truyền'' [25, 109]. Theo Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn trong Văn học dân gian Việt Nam do nhà xuất Nxb Giáo dục phát hành năm 1998 thì: "Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, có ý nghĩa hàm súc, do nhân dân lao động sáng tạo nên và lưu truyền qua nhiều thế kỷ" [10, 244]. Qua cách định nghĩa của các nhà nghiên cứu, ta có thể khái quát ngắn gọn về tục ngữ: Tục ngữ là đơn vị ngôn ngữ, có chức năng thông báo, có khả năng tạo câu một cách độc lập dưới dạng lời nói, hình thức của chúng tương đối ổn định, có ý nghĩa khái quát cao, do nhân dân lao động sáng tạo nên và lưu truyền qua nhiều thế kỷ.

Tục ngữ là tấm gương phản chiếu mọi biểu hiện của đời sống dân tộc, mọi quan niệm về đới sống nhân dân về các hiện tượng lịch sử xã hội về đạo đức, tôn 10 download by : skknchat@gmail. Nó là một thể loại văn học ra đời từ rất sớm, có số lượng phong phú và sức sống bền lâu trong lòng dân tộc. Trong đời sống và tư duy, tục ngữ giúp con người có những kinh nghiệm về cách nhìn nhận, bình giá, ứng xử thực hành về mọi phương diện của cuộc sống. Trong ngôn ngữ, tục ngữ làm đẹp, làm sâu sắc thêm lời nói, giúp mọi người diễn đạt cả những điều khó diễn đạt hoặc không tiện nói ra trực tiếp một cách hàm súc, bóng bẩy hơn.

Do đó tục ngữ là một di sản hết sức quý báu cần được lưu truyền và gìn giữ. Là sự đúc kết trí tuệ và tâm hồn nhân dân lao động, vì vậy những câu tục ngữ không chỉ là một phán đoán, một triết lý mà nó còn là một văn bản nghệ thuật có giá trị. Tục ngữ được ví như "túi khôn nhân gian","kho báu của trí tuệ nhân dân". Tục ngữ theo quan điểm của người Hán Trong giới nghiên cứu tục ngữ Hán, cũng như trong giới nghiên cứu tục ngữ tiếng Việt, các nhà Hán học cũng chưa có được một định nghĩa thống nhất, rõ ràng và cặn kẽ về tục ngữ.

Học giả Ôn Đoan Chính đã thừa nhận: “确定什么是俗语, 固然是个难题;怎样解释俗语,却是一个更难的课题”(Xác định thế nào là tục ngữ, đương nhiên là một vấn đề khó; Giải thích tục ngữ như thế nào, lại là một vấn đề còn khó hơn) [43, 47]. Thậm chí, ngay cả tên gọi cũng chưa có sự thống nhất, ngoài thuật ngữ tục ngữ, hàng loạt thuật ngữ như: thường là ngắn gọn, có hình ảnh, giàu tính ẩn dụ và phần lớn có vần điệu, có tính thơ (poetic).” Có thể định nghĩa này chưa phải là hoàn hảo nhưng nó thường được trích dẫn và được coi là một trong những định nghĩa tốt nhất bởi nó đã thể hiện được những thuộc tính cơ bản và điển hình cả về hình thức và nội dung của tục ngữ. Để có cái nhìn cụ thể hơn về cách hiểu khái niệm tục ngữ trong giới nghiên cứu tiếng Hán, dưới đây chúng tôi sẽ trình bày một số quan niệm về tục ngữ trong một số từ điển lớn của Trung Quốc và của một số học giả nghiên cứu ngôn ngữ nổi tiếng của Trung Quốc. 11 download by : skknchat@gmail.com 2)俗语就有以下三个特点: 1、具有群众性。俗语绝大多数是人民群众创造的,说不出具体的作者。 俗语既然是群众所创造的,自然为群众所喜闻乐见。 2、具有鲜明的口语性和通俗性。 俗语是通过群众世代口耳相传而流 传开的,所以口语性很强,总离不开一个“俗” 字。 3、具有相对的定型性。俗语不能是长篇,而是简明凝练的;也不是自 由组合的语句,而是约定俗成,具有定型性的特点。但俗语在结构上又有很 大的灵活性,同一个俗语可以有很多变体,有的可以调换部分词语,改变说 法;有的可以增加一部分,有的可以颠倒语序。所以俗语的定型性只能是相 对的,不是绝对的。 (Tục ngữ có ba đặc điểm sau: 1.

Vốn có tính quần chúng. Đại đa số tục ngữ là do quần chúng nhân dân sáng tạo ra, không có tác giả cụ thể. Tục ngữ do quần chúng nhân dân sáng tạo ra, đương nhiên được quần chúng thích nghe, thích nói. Vốn có tính khẩu ngữ và tính đại chúng một cách rõ ràng.

Tục ngữ được lưu truyền rộng rãi từ đời này sang đời khác qua lời ăn tiếng nói của quần chúng cho nên tính khẩu ngữ của nó rất mạnh, không thể tách rời chữ “tục”. Vốn có tính định hình tương đối. Tục ngữ không thể là trường thiên (đoạn văn dài), mà là những câu ngắn gọn súc tích; cũng không phải là những ngữ cú được tạo ra một cách tự do, mà được hình thành do thói quen của quần chúng từ lâu đời, có đặc điểm định hình. Về mặt kết cấu, tục ngữ lại có tính linh hoạt rất lớn, cùng một tục ngữ có thể có rất nhiều biến thể, có tục ngữ có thể thay đổi từng bộ phận tục ngữ, thay đổi cách nói; có tục ngữ lại có thể tăng thêm một bộ phận, có tục ngữ lại có thể thay đổi trật tự từ.

Cho nên tính định hình của tục ngữ chỉ là tương đối, không phải tuyệt đối. 3)什么是俗语:只要是语言通俗,反映出人民的心愿,记录了社会生 活和人生经验,这些话早已被群众广泛使用,道理深刻,意思新鲜,说得形 象生动简炼透辟,这样的语句一般是既定型而又灵活的,人们把它叫做俗语, 俗话,老俗话,大俗话。 12 download by : skknchat@gmail. Tục ngữ quả là một loại hình độc đáo về cấu trúc cũng như ngữ nghĩa trong ngôn ngữ, chính vì lẽ đó định nghĩa khái quát về tục ngữ cho thật đầy đủ, hoàn chỉnh mọi mặt không phải là chuyện đơn giản. Những định nghĩa về tục ngữ của các nhà Việt ngữ cũng như Hán ngữ nêu ở trên tuy có những nội dung cơ bản như nhau nhưng mỗi định nghĩa còn mang thêm nét riêng biệt cho dù là rất nhỏ.

Việc tìm ra một định nghĩa phản ánh đầy đủ những thuộc tính cơ bản của khái niệm là công việc không dễ, cần thời gian, và sự góp sức của nhiều người. Để đáp ứng nhiệm vụ mà luận văn đặt ra, chúng tôi xác lập một định nghĩa tạm thời làm cơ sở để khảo sát, nghiên cứu như sau: “Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, súc tích, giàu hình ảnh đúc kết kinh nghiệm, tri thức dân gian của một dân tộc về thế giới khách quan, tự nhiên cũng như xã hội, có tính cố định tương đối, chủ yếu do quần chúng nhân dân sáng tác”. Khái quát nội dung, nghệ thuật của tục ngữ 1.Khái quát về nội dung: a. Tục ngữ Việt: Tục ngữ phản ánh những nhận định, quan niệm của nhân dân về lao động về các hiện tượng lịch sử xã hội, về tư tưởng, đạo đức, các hiện tượng tự nhiên, kinh nghiệm sản xuất.

- Phản ánh những kinh nghiệm về lao động sản xuất: Tục ngữ về lao động sản xuất phản ánh một số nét chính điều kiện và phương thức lao động của nhân dân, phản ánh đặc điểm đời sống dân tộc. Những kinh nghiệm về lao động sản xuất được đúc kết trong quá trình khắc phục thiên nhiên của nhân dân lao động phổ biến rộng rãi, trở thành tri thức khoa học kỹ thuật dân gian. Ví dụ 13 download by : skknchat@gmail.com như những kinh nghiệm về quy luật diễn biến của thời tiết khí hậu: Mây thành vừa hanh vừa giá; Trăng quầng trời hạn, trăng tán trời mưa. Trong quá trình lao động sản xuất ở các ngành nghề nông nghiệp, ngư nghiệp, một số nghề thủ công lâu đời, nhân dân cũng đã đúc kết được rất nhiều kinh nghiệm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ