phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về Trợ giúp viên pháp lý trong TTDS Chƣơng 2: Các quy định pháp luật Việt Nam về Trợ giúp viên pháp lý trong TTDS Chƣơng 3: Thực trạng tham gia TTDS của Trợ giúp viên pháp lý và giải pháp nâng cao hiệu quả tham gia TTDS của Trợ giúp viên pháp lý 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRỢ GIÚP VIÊN PHÁP LÝ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. Khát quát về trợ giúp pháp lý 1. Khái niệm trợ giúp pháp lý Xuất phát ban đầu, trợ giúp pháp lý là một loại hoạt động phúc lợi xã hội đã có lịch sử lâu đời và đƣợc bắt nguồn tại nƣớc Anh từ thế kỷ XV – XVI và xuất hiện trong một số đạo luật đƣợc ban hành tại Pháp vào khoảng năm 1851. Cùng với xu hƣớng phát triển của nhiều quốc gia châu Âu, tƣ duy về quyền đƣợc trợ giúp pháp lý trở thành trào lƣu chung với khái niệm “luật cho ngƣời nghèo”.
Thuật ngữ “trợ giúp pháp lý”(“Legal aid”) đƣợc sử dụng phổ biến từ giữa thế kỷ 19. Từ điển Anh – Anh của Collins (1979) định nghĩa “Legal aid” là: “financial assistance available to person unable to meet the full cost of legal proceedings”, có nghĩa là “hỗ trợ tài chính cho những ngƣời không đủ khả năng chi trả đầy đủ chi phí tố tụng pháp lý”. Ở mỗi quốc gia, quan niệm trợ giúp pháp lý cũng có sự khác biệt, phụ thuộc vào chế độ chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội của từng nƣớc. Tại Anh, đạo luật về trợ giúp pháp lý năm 1998 của Vƣơng quốc Anh định nghĩa “trợ giúp pháp lý” là sự trợ giúp trong việc sử dụng bất kỳ biện pháp nào mà một ngƣời có thể sử dụng, gồm cả các biện pháp đối với thủ tục tố tụng, liên quan đến việc áp dụng pháp luật Anh quốc trong các trƣờng hợp cụ thể phát sinh có liên quan đến ngƣời đó, bằng cách hoặc nhân danh ngƣời này để thực hiện các biện pháp đó (bao gồm cả việc trợ giúp bằng hình thức đại diện) hoặc giúp đỡ anh ta tự thực hiện các biện pháp đó [22].
Luật TGPL tại Phần Lan định nghĩa: “trợ giúp pháp lý bao gồm quy định về tƣ vấn pháp luật, các biện pháp cần thiết, việc đại diện trƣớc Toà án và cơ quan có thẩm quyền khác và việc miễn trừ các chi phí giải quyết vụ việc cụ thể theo quy định của Luật này” [22]. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luật TGPL 1993 tại Hà Lan định nghĩa: “trợ giúp pháp lý là hỗ trợ về pháp luật cho một đối tƣợng đang có một vấn đề pháp lý ảnh hƣởng trực tiếp đến cá nhân ngƣời đó nhƣ đƣợc quy định trong Luật TGPL và các quy định khác dựa trên Luật này” [22]. Luật TGPL năm 1995 của Hàn Quốc quy định tại Điều 1 nhƣ sau: “Mục đích của Đạo luật này là nhằm bảo vệ các quyền cơ bản của con ngƣời và tăng số ngƣời đƣợc hƣởng lợi từ hệ thống pháp luật bằng cách trợ giúp pháp lý cho những ngƣời gặp khó khăn về kinh tế hoặc những ngƣời không đƣợc pháp luật bảo vệ một cách đầy đủ do những sơ hở trong pháp luật.” Theo đó, “trợ giúp pháp lý” đƣợc hiểu là việc một Luật sƣ hoặc một cán bộ pháp lý Nhà nƣớc cung cấp dịch vụ tƣ vấn pháp luật, đại diện hoặc các dịch vụ trợ giúp khác có liên quan đến pháp luật để đạt đƣợc mục đích nêu tại Điều 1 [22]. Theo Điều 5 Luật TGPL tại Bang Queensland, Úc thì trợ giúp pháp lý có nghĩa là cung cấp dịch vụ pháp lý bao gồm tƣ vấn pháp lý, đại diện, bào chữa miễn phí hoặc cho thu phí nhƣng với mức thấp hơn giá trị thực tế của dịch vụ [22].
Điều 2 Luật TGPL của Nhà nƣớc Litva 2005 quy định: “1. Trợ giúp pháp lý của Nhà nƣớc có nghĩa là TGPL sơ cấp và TGPL thứ cấp. Trợ giúp pháp lý sơ cấp - cung cấp thông tin pháp lý, tƣ vấn pháp luật và soạn thảo các văn bản phục vụ cho các thiết chế của Nhà nƣớc và thành phố, loại trừ các văn bản về thủ tục, theo các thủ tục quy định tại Luật này. Bên cạnh đó, loại trợ giúp pháp lý này cũng bao gồm cả việc tƣ vấn giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án, các hành vi giải quyết tranh chấp trên cơ sở hòa giải và soạn thảo các thỏa thuận hòa giải.
Trợ giúp pháp lý thứ cấp có nghĩa là soạn thảo các văn bản, bào chữa và đại diện trong các vụ việc, bao gồm cả quá trình thi hành, đại diện trong các vụ việc” [22]. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo nghĩa tiếng Việt, Từ điển Anh – Anh – Việt của của Ban Biên soạn từ điển New era, Nxb Văn hóa Thông tin thì “Legal aid” có nghĩa là “Trợ cấp pháp lý (trích từ quỹ phúc lợi công cộng)”. Trong một số tài liệu khác dịch "Legal aid" là “hỗ trợ pháp luật”, “hỗ trợ pháp lý” hoặc “hỗ trợ tƣ pháp” [34]. Nhƣ vậy, tại Việt Nam có nhiều cách gọi khác nhau về thuật ngữ này.
Từ năm 1986 khi nƣớc ta chính thức tiến hành sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nƣớc, Nhà nƣớc Việt Nam đã thông qua Chiến lƣợc toàn diện về tăng trƣởng và xóa đói giảm nghèo (Chiến lược xóa đói giảm nghèo), trong đó có chính sách TGPL cho ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách. Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trƣơng “thực hiện tốt dân chủ XHCN, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân”, “vì mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” [28]. Để góp phần thực hiện các mục tiêu trên, Đảng và Nhà nƣớc đã quan tâm chỉ đạo “cần phải mở rộng loại hình tư vấn pháp luật phổ thông, đáp ứng nhu cầu rộng rãi, đa dạng của các tầng lớp nhân dân. cần nghiên cứu lập hệ thống dịch vụ tư vấn pháp luật không lấy tiền để hướng dẫn nhân dân sống và làm việc theo pháp luật” [28].
Thực hiện các quan điểm nêu trên, ngày 06/9/1997, Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 734/TTg về việc thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý cho ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách. Nhƣ vậy, thuật ngữ “trợ giúp pháp lý” đƣợc chính thức sử dụng trong hệ thống văn bản pháp luật. Ngày 29/6/2006, Quốc hội thông qua Luật TGPL, có hiệu lực thi hành từ 01/01/2007. Điều 3 Luật TGPL nêu khái niệm TGPL: “Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL giúp họ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật”.
Ngày 20/6/2017, Quốc hội thông qua Luật 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com TGPL thay thế Luật TGPL năm 2006, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018. Theo đó, định nghĩa trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho ngƣời đƣợc TGPL trong vụ việc TGPL theo quy định của Luật TGPL, góp phần bảo đảm quyền con ngƣời, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trƣớc pháp luật. Khái niệm trợ giúp pháp lý theo Luật TGPL năm 2017 đã thể hiện những thuộc tính chung, bản chất và cả mục đích, ý nghĩa của hoạt động TGPL ở Việt Nam. Bên cạnh đó, thuật ngữ trợ giúp pháp lý cũng đƣợc sử dụng tại Luật Luật sƣ nhƣ là một nghĩa vụ xã hội của luật sƣ.
Điều 21 Luật Luật sƣ 2006 quy định về quyền, nghĩa vụ của luật sƣ, trong đó luật sƣ có nghĩa vụ thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí. Nghĩa vụ thực hiện trợ giúp pháp lý của luật sƣ đƣợc thực hiện theo Điều lệ của luật sƣ. Theo quy định hiện nay, luật sƣ thực hiện nghĩa vụ xã hội TGPL của mình là 8h/ngày/năm. Tuy nhiên, lĩnh vực, đối tƣợng, phạm vi TGPL này không hoàn toàn trùng với hoạt động TGPL theo quy định của Luật TGPL 2006.
Ngoài trợ giúp pháp lý theo hệ thống của nhà nƣớc cung cấp và nghĩa vụ của luật sƣ, còn có một số hình thức tƣơng tự. Chẳng hạn “án chỉ định” theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng và “pro bono” là thực hiện TGPL tự nguyện của luật sƣ. Có thể thấy, trên thế giới và ở Việt Nam, mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về TGPL, nhƣng nhìn chung đều thống nhất ở chỗ “trợ giúp pháp lý” là hoạt động mang cả hai tính chất: pháp lý và nhân đạo. Tính pháp lý thể hiện thông qua hoạt động tƣ vấn pháp luật, bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích trƣớc Tòa án và các dịch vụ pháp lý khác (nhƣ hòa giải, đại diện ngoài tố tụng) của đội ngũ ngƣời thực hiện TGPL đƣợc pháp luật quy định.
Tính nhân đạo thể hiện ở chỗ hoạt động này nhằm giúp đỡ cho những đối tƣợng không có khả năng tài chính hay để chi trả cho các chi phí khi tiếp cận với các dịch vụ pháp lý và họ đƣợc giảm hoặc miễn phí dịch vụ pháp lý này. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đặc điểm của trợ giúp pháp lý Thứ nhất, TGPL đƣợc coi là một loại hình dịch vụ pháp lý bởi hình thức và phƣơng thức thực hiện tƣơng tự nhƣ dịch vụ pháp lý nói chung. Điểm khác biệt ở đây là TGPL có đối tƣợng, phạm vi, lĩnh vực trợ giúp, tổ chức, ngƣời thực hiện hẹp hơn; TGPL của Nhà nƣớc đƣợc thực hiện theo một trình tự, thủ tục khác so với trình tự thủ tục thực hiện dịch vụ pháp lý chung do tổ chức và cá nhân khác thực hiện.
Thứ hai, đối tƣợng hƣởng TGPL là những ngƣời có hoàn cảnh đặc biệt, có khó khăn về tài chính, không đủ điều kiện tiếp cận với các loại dịch vụ pháp lý có thu. Ngƣời thụ hƣởng TGPL không phải trả bất kỳ một khoản lệ phí nào. TGPL chứa đựng tính nhân văn sâu sắc, bởi mục tiêu hƣớng tới đối tƣợng phục vụ là những ngƣời có hoàn cảnh đặc biệt cần phải đƣợc Nhà nƣớc và xã hội quan tâm giúp đỡ, hỗ trợ. Sự hỗ trợ này sẽ làm giảm bớt những khó khăn của nhóm đối tƣợng yếu thế, góp phần tạo sự công bằng trong xã hội; Thứ ba, TGPL do những ngƣời có trình độ am hiểu pháp luật thực hiện trên trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.