phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương và 6 tiết. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com NỘI DUNG CHƢƠNG 1. KHÁI LUẬN VỀ TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ PHƢƠNG TÂY HIỆN ĐẠI 1. Khái niệm “triết học chính trị” 1.1 Các định nghĩa khác nhau về “triết học chính trị” Trong lịch sử, đã không ít người hoài nghi về sự tồn tại của triết học chính trị.
Nhưng hiện nay, sự tồn tại và vai trò của triết học chính trị đối với sự phát triển của nhân loại đã được khẳng định. Tuy nhiên, cho đến bây giờ vẫn chưa có sự thống nhất ý kiến về khái niệm “triết học chính trị”. Đó cũng là lý do mà hầu hết các công trình tổng quan về triết học chính trị phương Tây hiện nay bao giờ cũng có phần dẫn nhập bàn về khái niệm “triết học chính trị” hoặc chí ít là đề xuất phương pháp luận nghiên cứu của bộ môn này. Nhìn chung, triết học chính trị được định nghĩa dựa trên mối quan hệ của chính nó với khoa học chính trị và triết học xã hội.
Sự gắn bó giữa triết học chính trị với chính trị học và triết học xã hội khăng khít tới mức việc định nghĩa triết học chính trị thường dựa trên việc so sánh và vạch ra ranh giới với hai bộ môn này. Ngay từ thời Hy Lạp cổ đại, khái niệm chính trị đã gắn liền với khái niệm nhà nước. Nhà nước được xem là chủ thể tối cao của quyền lực. Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu vẫn xác định phạm vi nghiên cứu của triết học chính trị dựa trên chỉ dẫn này của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại.
Trong “Nhập môn triết học phương Tây”, tác giả Samuel Enoch Stumpf cho rằng “ngành triết học đề cập tới các loại xã hội mà chúng ta làm thành, và các cách thức mà các xã hội này làm và phải hành động, được gọi là triết học xã hội. Hình thức của xã hội mà các nhà triết học trong mọi thế kỷ quan tâm nhất là nhà nước, một tập thể con người có tổ chức chính trị trong một lãnh thổ đặc biệt dưới sự cai trị của một chính phủ. Ngành triết học xã hội nghiên cứu về 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhà nước được gọi là triết học chính trị” [20; 352]. Quan niệm này về triết học chính trị cho thấy lôgic mối quan hệ giữa triết học chính trị và triết học xã hội.
Theo đó, triết học chính trị là một bộ phận của triết học xã hội. Quan niệm này không sai nhưng chưa cho thấy sự vận động trong chính khái niệm triết học chính trị. Theo Gerard Elfstrom, nếu quan niệm như trên thì thuật ngữ triết học chính trị đã bị dùng sai trong bối cảnh hiện nay. Bởi vì nhiều chức năng truyền thống có liên quan tới nhà nước đang được đảm nhiệm bởi nhiều tổ chức khác [xem 39; 158].Raphael cũng chỉ ra ranh giới giữa triết học xã hội và triết học chính trị, từ đó cho thấy phạm vi nghiên cứu của triết học chính trị.
Ông cho rằng những nghiên cứu về xã hội có thể hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, nghiên cứu xã hội bao gồm nghiên cứu về chính trị và tất cả những gì liên quan tới hoạt động của con người trong xã hội. Theo nghĩa hẹp, nghiên cứu xã hội hay nghiên cứu có tính xã hội được giới hạn trong những lĩnh vực không trùng với chủ đề nghiên cứu của các bộ môn khác. Từ đây, ông khẳng định bản chất nhà nước, chủ quyền, nghĩa vụ chính trị thuộc thẩm quyền nghiên cứu của triết học chính trị.
Còn tự trị, tự do, bình đẳng, công bằng, do phạm vi ứng dụng rộng hơn nên chúng là đối tượng nghiên cứu của triết học xã hội [xem 65; 15]. Sự giới hạn phạm vi nghiên cứu của triết học chính trị như trên đã dẫn đến những quan niệm về triết học chính trị theo nghĩa hẹp. Bên cạnh đó, “triết học chính trị còn được hiểu như là sự cụ thể hóa các luận điểm của triết học xã hội, tìm hiểu cơ cấu, chức năng và ý nghĩa của nhà nước, sự vận động và phát triển của nó, các động lực cơ bản của xã hội, các đặc trưng điều hành… từ cơ sở thế giới quan, phương pháp luận nhất định” [4; 15]. Quan niệm này có vẻ đã bao quát được những khía cạnh mà cách định nghĩa hẹp trên về triết học chính trị bỏ qua.
Nhưng quan niệm này lại mắc phải vấn đề nan giải là: nếu quan niệm như vậy về triết học chính trị thì sự phân biệt đối tượng nghiên cứu của xã hội học, chính trị học với triết học chính trị là không rõ. Bởi vì xã hội học và chính trị học thường tập trung vào cơ cấu và hoạt động của các cơ 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chế xã hội trong khi triết học chính trị thường là những suy tư biện minh về mặt lý thuyết của cơ chế này. Cần lưu ý rằng hiện nay trong triết học phương Tây hiện đại, thuật ngữ “triết học chính trị” (political philosophy) và “học thuyết chính trị” (political theory) được dùng thay thế lẫn nhau mỗi khi cần nhấn mạnh tính “chuẩn tắc” của triết học chính trị trong thế tương quan với “tính thực nghiệm”, “sự kiện” của chính trị học. Mặt khác, quan niệm về triết học chính trị theo nghĩa hẹp còn xuất phát từ việc nhấn mạnh nhiệm vụ xác minh khái niệm hoặc biện minh giá trị của bộ môn này.
Triết học chính trị từng bị xem là khoa học cấp 2 vốn có nhiệm vụ xác định khái niệm để phục vụ cho khoa học chính trị. Với quan niệm này thì triết học chính trị là một bộ phận của khoa học chính trị.Berg Schlosser và H. Maier đều quy triết học chính trị về một trong các yếu tố của chính trị học, trong đó triết học chính trị là cơ sở cho các yếu tố khác [xem 18; 41]. Với việc nhấn mạnh chức năng biện minh giá trị của triết học chính trị, thì nó thường được hiểu đơn thuần chỉ là hệ tư tưởng hay ý thức hệ.
Mặc dù khái niệm ý thức hệ hiện nay đã mang những nội hàm mới, nhưng nhìn chung, quan niệm về triết học chính trị này buộc phải viện dẫn đến mối quan hệ giữa triết học đạo đức và triết học chính trị. Từ đó, triết học chính trị lại được phân biệt với khoa học chính trị ở khía cạnh: triết học chính trị lưu tâm tới luân lý đạo đức còn khoa học chính trị thì không. Cụ thể, triết học chính trị bắt đầu với câu hỏi: mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội nên được nhìn nhận như thế nào? Chủ đề chính của triết học chính trị là tìm kiếm sự áp dụng các khái niệm đạo đức đối với lĩnh vực xã hội và từ đó có thể suy tư về sự tồn tại những hình thức đa dạng của chính phủ và xã hội mà con người đang sống – và từ đây, nó cũng cung cấp một tiêu chuẩn mà chúng ta có thể dựa vào đó để phân tích và phán đoán về những mối quan hệ và thể chế đang tồn tại. Mặc dù triết học chính trị và khoa học chính trị đều có mối liên hệ mật thiết với phần lớn những vấn đề và phương pháp triết học, thì triết học chính trị vẫn có thể phân biệt với khoa học chính trị.
Khoa học chính trị phần nhiều giải quyết những sự kiện chính trị, 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com do vậy có thể bỏ qua những vấn đề luân lý trong các miêu tả của nó, nó tìm kiếm cách phân tích thực chứng về các sự kiện/vấn đề xã hội – ví dụ, vấn đề thể chế, hành vi bầu cử, cân bằng quyền lực, hiệu quả của các quan niệm về tư pháp, v.v… Triết học chính trị sản sinh ra các quan điểm về xã hội tốt đẹp…[77]. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu triết học chính trị lại không đồng tình với quan niệm này.Murray cho rằng, ở hầu hết các trường hợp trong lịch sử, triết học chính trị liên quan tới lĩnh vực đạo đức. Điều này đúng nhưng không đủ. Bởi vì lịch sử triết học chính trị còn được đánh dấu bởi các nhà triết học chính trị như Machiavelli (1469 – 1527), Thomas Hobbes (1588 – 1679) mà lý thuyết của họ dựa trên giả thuyết mang tính kinh nghiệm, thực nghiệm, tránh đụng chạm tới lĩnh vực đạo đức [xem 59; 13].
Hiện nay, trong phần lớn các công trình nghiên cứu về triết học chính trị phương Tây hiện đại, khái niệm triết học chính trị được hiểu theo nghĩa rộng hơn. Ở mức độ nhất định, triết học chính trị thường được dùng với ngụ ý là triết học chính trị xã hội. Trong “Social and political philosophy: A contemporary introduction” (Dẫn luận đương đại về triết học chính trị xã hội), John Christman đưa ra định nghĩa về triết học chính trị như sau: “Triết học chính trị là lĩnh vực nghiên cứu về con người xã hội, được quản lý bởi các thể chế và thực tiễn có vai trò thiết lập, cưỡng chế và định hình cuộc sống mà xã hội đó hướng tới theo nhiều cách thức” [36; 3]. Trong “Contemporary debates in political philosophy” (Những tranh luận đương đại về triết học chính trị), các tác giả cho rằng trọng tâm nghiên cứu của triết học chính trị trong vòng 30 năm qua đã vượt qua những chú trọng ban đầu đối với những nhận định về nhà nước dân tộc… Theo đó, triết học chính trị không chỉ đơn thuần là học thuyết mang tính chuẩn tắc bàn về nhà nước dân tộc mà còn là các quy tắc mà dựa vào đó chúng ta có thể đánh giá và cải cách các thể chế kinh tế chính trị có ảnh hưởng rộng lớn tới đời sống chúng ta [xem 37; 1].
Trong từ điển “Triết học Cambridge”, triết học chính trị được định nghĩa như sau: “Triết học chính trị nghiên cứu bản chất và biện hộ cho các thể chế chính trị” [35; 718]. Trong đó, 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thể chế chính trị có phạm vi từ gia đình, nhà nước – dân tộc cho đến các thể chế quốc tế như Liên hiệp quốc. Trong “A companion to comtemporary political philosophy” (Đồng hành cùng triết học chính trị đương đại) [46], các tác giả cũng tán thành quan niệm trên về định nghĩa triết học chính trị. Chính vì vậy, trong công trình này, các tác giả đã khảo sát nhiều công trình thuộc các lĩnh vực kinh tế, lịch sử, luật… với mục đích xác định các kiểu thể chế chính trị - được xem là đối tượng nghiên cứu của triết học chính trị.
Theo họ, đó phải là những thể chế tạo nên “cấu trúc cơ bản của xã hội” theo như mô tả của J.