Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI KHÔNG TỐ GIÁC TỘI PHẠM 1. Khái niệm tội không tố giác tội phạm và trách nhiệm hình sự đối với tội không tố giác tội phạm 1. Khái niệm tội không tố giác tội phạm Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội đƣợc quy định trong Bộ luật hình sự, do ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm tới các khách thể do luật hình sự bảo vệ. Thông tƣ liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT- VKSNDTC quy định: “Tố giác về tội phạm là thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm do cá nhân có danh tính, địa chỉ rõ ràng cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết” [2, Điều 3, Khoản 1].
Không tố giác nghĩa là không báo cho các cơ quan có thẩm quyền về những tin tức về tội phạm mà mình biết rõ [6, tr. Không tố giác tội phạm là hành vi không báo với cơ quan, tổ chức biết về tội phạm đang đƣợc chuẩn bị, đang đƣợc thực hiện, hoặc đã đƣợc thực hiện mà mình biết rõ, đồng thời họ có khả năng tố giác, không gặp bất kì một trở ngại khách quan nào. Hành vi không tố giác tội phạm đã đƣợc BLHS của nhiều quốc gia trên thế giới điều chỉnh. Trong lịch sử lập pháp hình sự của Việt Nam thì hành vi này cũng đã đƣợc tội phạm hóa từ rất lâu, đến BLHS năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2016 tiếp tục quy định hành vi này là tội phạm với một số điểm mới quan trọng.
Sở dĩ nhà làm luật quy định hành vi này là tội phạm xuất phát từ tính nguy hiểm cho xã hội đáng kể của hành vi này. 7 Hành vi này đã xâm phạm tới một trong những khách thể quan trọng của luật hình sự đó là hoạt động đúng đắn của các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Hành vi này không những gây khó khăn, cản trở cho cơ quan chức năng trong việc bảo vệ quyền lợi của nhà nƣớc, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, mà còn lảm ảnh hƣởng tới hiệu quả, tính kịp thời, nhanh chóng của công tác điều tra, truy tố, xét xử,thi hành án của cơ quan chức năng, làm giảm hiệu lực-chức năng của bộ máy nhà nƣớc. Đề cấu thành tội này đòi hỏi ngƣời phạm tội phải nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng trong việc phát hiện điều tra, xử lý tội phạm nhƣng vẫn thực hiện –không tố giác, tức là ngƣời phạm tội luôn thực hiện hành vi không tố giác dƣới hình thức lỗi cố ý trực tiếp.
Đồng thời ngƣời đó phải biết rõ tội phạm mà mình không tố giác là tội phạm đang đƣợc chuẩn bị, đang đƣợc thực hiện hoặc đã đƣợc thực hiện. Biết rõ tội phạm đang đƣợc chuẩn bị, đang đƣợc thực hiện hoặc đã đƣợc thực hiện tức là ngƣời đó phải biết hành vi của ngƣời phạm tội, nhận thức đƣợc hành vi đó là hành vi cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, cần phân biệt hành vi không tố giác tội phạm với hành vi đồng phạm của chính tội không tố giác đó. Trong đồng phạm, nếu tất cả những ngƣời liên quan cùng thực hiện một tội phạm (bất kỳ ngƣời nào tham gia đều nhằm thực hiện tội phạm hoặc thúc đẩy thực hiện tội phạm), nếu họ tham gia một trong các hành vi nhƣ: Hành vi trực tiếp thực hiện tội phạm (ngƣời thực hành), hành vi tổ chức thực hiện tội phạm (ngƣời tổ chức), hành vi xúi giục ngƣời khác thực hiện tội phạm (ngƣời xúi giục), hành vi giúp sức ngƣời khác thực hiện tội phạm (ngƣời giúp sức).
Và tất cả hành vi của những ngƣời tham gia phải có sự liên kết thống nhất với nhau hành vi của ngƣời này phải là tiền đề cho hành vi của ngƣời khác, hành vi của mỗi ngƣời phải có 8 mối quan hệ nhân quả với việc thực hiện tội phạm chung và hậu quả của tội phạm chung đó. Đồng thời, tất cả những ngƣời tham gia đều có lỗi cố ý, tức là mỗi ngƣời phải nhận thức đƣợc hành vi của mình và của ngƣời khác là nguy hiểm; thấy trƣớc hậu quả hành vi của mình và của ngƣời khác gây ra, mong muốn có hoạt động chung, mong muốn hoặc để mặc cho hậu quả phát sinh. Nếu không tố giác một tội phạm đang đƣợc chuẩn bị, đang đƣợc thực hiện, hoặc đã thực hiện mà mình biết rõ nhƣng thỏa mãn các dấu hiệu khách quan và chủ quan trên thì về bản chất không còn là hành vi không tố giác tội phạm nữa mà là hành vi đồng phạm. Ngoài ra, nếu nhƣ một ngƣời hứa hẹn trƣớc sẽ không tố giác hành vi phạm tội của ngƣời khác khi ngƣời đó chuẩn bị hoặc thực hiện hành vi phạm tội thì hành vi này không còn là hành vi không tố giác tội phạm mà về bản chất là hành vi đồng phạm.
Bởi việc hứa hẹn trƣớc sẽ không tố giác tội phạm là một dạng của hành vi giúp sức về tinh thần, có tác dụng củng cố ý chí và quyết tâm thực hiện tội phạm của ngƣời khác, nên trƣờng hợp này cần phải xác định là hành vi đồng phạm. Theo đó, tác giả đƣa ra khái niệm tội không tố giác tội phạm nhƣ sau: Tội không tố giác tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội do ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi luật định, thực hiện một cách cố ý trực tiếp,mặc dù không có sự hứa hẹn trƣớc nhƣng khi biết rõ một tội phạm đang đƣợc chuẩn bị, đang đƣợc thực hiện hoặc đã thực hiện theo quy định của Bộ luật hình sự mà không tố giác với cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền, qua đó xâm phạm tới hoạt động đúng đắn của các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án trong việc bảo vệ quyền lợi của nhà nƣớc, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố xét xử. Khái niệm trách nhiệm hình sự đối với tội không tố giác tội phạm Về khái niệm TNHS hiện nay khoa học pháp lý còn nhiều quan điểm khác nhau. Quan điểm thống nhất hiện nay thừa nhận TNHS là một loại trách nhiệm pháp lý.
Khái niệm trách nhiệm pháp lý vốn cũng đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa, do vậy khái niệm TNHS cũng có nhiều quan điểm khác nhau. Quan điểm cho rằng, Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm của ngƣời phạm tội phải chịu những hậu quả pháp lý bất lợi về hành vi phạm tội của mình [37, tr. 162]; Trách nhiệm hình sự là việc thực hiện chế tài pháp lý hình sự, phát sinh từ khi áp dụng hình phạt đối với ngƣời phạm tội [40, tr. Trách nhiệm hình sự là những hậu quả pháp lý bất lợi mà ngƣời phạm tội phải chịu trƣớc Nhà nƣớc [46, tr.
106]; Trách nhiệm hình sự là nghĩa vụ của một ngƣời phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi trƣớc Nhà nƣớc về hành vi phạm tội của mình thể hiện ở việc ngƣời phạm tội bị tƣớc đoạt hoặc bị hạn chế quyền và lợi ích nhất định theo quy định của pháp luật [17, tr. 316]; Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của Nhà nƣớc và ngƣời phạm tội, đƣợc thể hiện ở các biện pháp tác động có tính chất pháp lý hình sự mà luật hình sự quy định, áp dụng đối với ngƣời thực hiện tội phạm, bao gồm hình phạt và các biện pháp tác động có tính chất pháp lý hình sự khác không phải hình phạt và đƣợc bắt đầu từ khi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một ngƣời [15, tr. 8]; TNHS là một dạng của trách nhiệm pháp lý bao gồm nghĩa vụ phải chịu 10 sự tác động của hoạt động truy cứu TNHS, chịu bị kết tội, biện pháp cƣỡng chế của TNHS hình phạt, biện pháp tƣ pháp và chịu mang án tích [16, tr. 126]; Quan điểm khác cho rằng, TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và đƣợc thể hiện bằng việc áp dụng đối với ngƣời phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cƣỡng chế của nhà nƣớc do luật hình sự quy định [3, tr.
122]; TNHS là biện pháp cƣỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nƣớc đƣợc áp dụng đối với ngƣời thực hiện hành vi phạm tội [47, tr. 3]; TNHS là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, thể hiện ở chỗ ngƣời đã gây ra tội phải chịu TNHS về hành vi của mình trƣớc nhà nƣớc [42, tr. 41]; TNHS là một dạng trách nhiệm pháp lý, là trách nhiệm của ngƣời khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đƣợc quy định trong pháp luật hình sự bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà ngƣời đó đã thực hiện [19, tr. 14]; Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, kết quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự và đƣợc thể hiện trƣớc hết ở việc kết án của Tòa án, nhân danh Nhà nƣớc, đối với ngƣời phạm tội [13 tr.
91]; Nhƣ vậy, về khái niệm TNHS còn rất nhiều quan điểm khác nhau, tuy nhiên đều thống nhất ở nội hàm khái niệm đó là những hậu quả pháp lý bất lợi của việc thực hiện tội phạm. Từ những quan điểm trên, tác giả có quan điểm nhƣ sau: TNHS là một dạng của trách nhiệm pháp lý, đó là trách nhiệm của ngƣời phạm tội phải chịu những hậu quả pháp lý bất lợi của việc thực hiện tội phạm đối với nhà nƣớc và đƣợc thể hiện bằng việc áp dụng một hay nhiều biện pháp cƣỡng chế của nhà nƣớc do Bộ luật hình sự quy định đối với ngƣời phạm tội. 11 Qua đó, theo tác giả TNHS đối với tội không tố giác tội phạm đƣợc hiểu nhƣ sau: TNHS đối với tội không tố giác tội phạm là một dạng của trách nhiệm pháp lý, đó là trách nhiệm của ngƣời biết rõ tội phạm đang đựơc chuẩn bị, đang đƣợc thực hiện hoặc đã đƣợc thực hiện mà không tố giác, phải chịu những hậu quả pháp lý bất lợi của việc thực hiện tội phạm đó đối với nhà nƣớc và đƣợc thể hiện bằng bản việc áp dụng một hay nhiều biện pháp cƣỡng chế của nhà nƣớc do Bộ luật hình sự quy định đối với ngƣời phạm tội.