CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1.1 Thi hành án hình sự và kiểm sát thi hành án hình sự 1.1 Thi hành án hình sự - Khái niệm thi hành án hình sự. Đấu tranh phòng và chống tội phạm là nhiệm vụ quan trọng của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới. Về vấn đề này V.I Lê nin đã chỉ rõ: “Tác dụng ngăn ngừa của hình phạt … hoàn toàn không phải ở chỗ hình phạt đó phải nặng mà ở chỗ đã phạm tội thì không thoát khỏi bị trừng phạt”[15]. Để bảo đảm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền con người, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định về trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
Tuy nhiên mỗi giai đoạn tố tụng đều có sự độc lập trong mối quan hệ nhân quả của cả quá trình tố tụng. Việc phân định các giai đoạn tố tụng có ý nghĩa quan trọng đảm bảo việc tổ chức và thực hiện được mục đích và nhiệm vụ của Luật tố tụng hình sự, là cơ sở để xác định nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng. Việc phân định càng rõ, càng khoa học, sát với thực tế thì việc giải quyết vụ án càng được nhanh chóng và chính xác, kịp thời, tránh được sự đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan tiến hành tố tụng. Theo Hán - Việt từ điển của Đào Duy Anh, thi hành là: "Đem cái việc đã trù định sẵn mà làm ra cho có hiệu quả" 1.
Như vậy, thi hành án có thể được hiểu là thực hiện bản án, quyết định của Tòa án trên thực tế; còn thi hành án hình sự 1 Đào Duy Anh, Hán Việt từ điển, Nxb. Lê Văn Tân, Hà Nội, 1932, tr. 38 8 là thực hiện các bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trên thực tế. Điều này có nghĩa là chỉ các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật và đang có hiệu lực pháp luật mới được đem thi hành.
Đó là các bản án, quyết định hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003, Điều 2 Luật thi hành án hình sự (Luật THAHS) năm 2010 nhưng chưa quá thời hiệu thi hành bản án theo quy định tại Điều 55 Bộ luật hình sự (BLHS) năm 2009, bao gồm: những bản án và quyết định của Toà án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm; những bản án và quyết định của Toà án cấp phúc thẩm; những quyết định của Toà án cấp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Thi hành án hình sự là một giai đoạn trong tố tụng hình sự và có thể coi đó là giai đoạn cuối cùng của một vụ án hình sự. Công tác điều tra, truy tố và xét xử là rất quan trọng và quyết định hình phạt của Toà án chính là sự đánh giá, sự lên án của Nhà nước đối với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Nếu chỉ dừng ở mức đánh giá, lên án mà không thực hiện bằng các biện pháp mang tính cưỡng chế đặc trưng của quyền lực nhà nước thì tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa và tính chịu hình phạt hạn chế, thậm chí là không có tác dụng.
Chính vì vậy, pháp luật hình sự đã có những quy định cụ thể về thi hành án hình sự; các ngành tư pháp trung ương nói chung và Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) nói riêng cũng đã ban hành một số thông tư liên tịch, nghị quyết để hướng dẫn một số quy định của BLHS năm 2009, BLTTHS năm 2003 về thi hành án hình sự nhằm đảm bảo việc thi hành nghiêm túc các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay. Nội dung thi hành án hình sự rất rộng, bao gồm: thủ tục, chế độ, tổ chức thi hành án, áp dụng các biện pháp hành chính, giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội và thực hiện chế độ, chính sách đối với người bị kết án. Các quan hệ xã hội cụ thể phát sinh trong quá trình thi hành và chấp hành hình phạt như: việc đưa bản án ra thi hành, chỉ định cơ quan tổ chức thi hành án, tổ chức lực lượng, cơ sở vật chất 9 đảm bảo cho thi hành án; quản lý nhà nước về công tác thi hành án; quy định về quyền và nghĩa vụ của người chấp hành án; nghĩa vụ của cơ quan nhà nước hữu quan. do pháp luật thi hành án hình sự quy định.
Từ sự phân tích ở trên, có thể đi đến kết luận rằng: Công tác thi hành án hình sự là việc đưa các bản án, quyết định hình sự của Toà án đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành trên thực tế. Lâu nay, quan niệm về họat động thi hành án hình sự thu hút được nhiều sự quan tâm và được nhìn nhận trên nhiều phương diện khác nhau: Quan điểm thứ nhất của TS. Nguyễn Hữu Thư và một số nhà luật học khác cho rằng, "Thi hành án là một giai đoạn của tố tụng, bởi nếu tách ra thì sẽ không thực hiện được mục tiêu chung của toàn bộ quá trình tố tụng. Khi chân lý được làm sáng tỏ thể hiện trong bản án, quyết định của Tòa án thì mới chỉ dừng lại ở việc làm rõ đúng hay sai, phải hay trái trên văn bản, giấy tờ.
Muốn nó được thực hiện trên thực tế, cần phải chờ ở hiệu quả công tác thi hành án. Vì vậy, thi hành án là giai đoạn tiếp theo của quá trình xét xử". [11, trg 8] Quan điểm thứ hai của PGS. Nguyễn Tất Viễn cho rằng, thi hành án là một giai đoạn của tố tụng, nhưng "mục đích của quá trình tố tụng là khôi phục lại tình trạng ban đầu bị hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm, tuy nhiên, bên cạnh đó, thi hành án còn có mục đích riêng.
Nó vừa mang tính tố tụng, vừa mang tính hành chính - tư pháp được điều chỉnh bởi pháp luật tố tụng và pháp luật về hành chính - tư pháp". Quan điểm thứ ba của PGS. Võ Khánh Vinh, TS. Đinh Trung Tụng cũng như của nhiều nhà luật học khác cho rằng, thi hành án là một giai đoạn độc lập mang tính hành chính - tư pháp: "không thể đồng nhất hoạt động thi hành án với hoạt động tố tụng, bởi lẽ, hoạt động thi hành án có tính chất chính trị, pháp lý, xã hội của nó.
Nghiên cứu hoạt động thi hành án hiện nay, cần đặt trong vấn 10 đề xây dựng Nhà nước pháp quyền. Về bản chất hoạt động thi hành án được thể hiện ở ba phương diện chủ yếu sau: - Xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quá trình thi hành án; - Tính đặc thù trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan thi hành án; - Đặc thù trong các quan hệ thủ tục về thi hành án (đây là một vấn đề có thể dẫn đến sự nhầm lẫn với quan hệ tố tụng). Quan hệ thủ tục thi hành án có thể bao gồm cả quan hệ tố tụng và các quan hệ khác mang tính hành chính - tư pháp. Nhưng cần khẳng định rằng, các quan hệ mang tính hành chính - tư pháp chủ yếu hơn.
Chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ ba, bởi lẽ pháp luật thi hành án hình sự có đối tượng điều chỉnh là lĩnh vực các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thi hành tất cả các loại án hình sự, trong quá trình giáo dục và cải tạo người bị trách nhiệm hình sự hoặc bị án. Đây là lĩnh vực các quan hệ xã hội đặc thù chỉ xuất hiện sau khi bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Các quan hệ xã hội này không chịu sự tác động của một trong những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự, đó là nguyên tắc suy đoán vô tội, bởi lẽ ở thời điểm thi hành án hình sự đã có bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Mặc dù còn có các ý kiến khác nhau về bản chất pháp lý của pháp luật thi hành án hình sự, nhưng nhìn chung đều thống nhất thừa nhận: pháp luật thi hành án hình sự là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực thi hành các bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.2 Khái quát về kiểm sát thi hành án hình sự - Khái niệm kiểm sát việc thi hành án hình sự.
11 Để tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nhất thiết phải đảm bảo quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát đối với các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và mọi công dân. Ngay từ khi được thành lập, Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản quy định về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát, tạo điều kiện cho Viện kiểm sát phát huy hiệu lực, hiệu quả hoạt động của mình. Trong mỗi giai đoạn phát triển khác nhau của đất nước, nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát được quy định khác nhau nhưng đều có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật trong thi hành các bản án. Ngày 01/07/1959, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 256/TTg quy định nhiệm vụ của Viện công tố là: “Nhiệm vụ chung của Viện Công tố là giám sát việc tuân thủ pháp luật và chấp hành pháp luật của Nhà nước, truy tố theo Luật hình sự những kể phạm pháp để bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ tài sản của công, bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm cho cuộc kiến thiết và cải tạo Xã hội chủ nghĩa tiến hành thuận lợi.