phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tổ chức thông tin kế toán trong chu trình cung ứng thuốc, vật tƣ y tế tại cáccơ sở y tế. Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức thông tin kế toán trong chu trình cung ứng thuốc, vật tƣ y tế tại Trung tâm Y tế thành phố Quy Nhơn Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức thông tin kế toán trong chu trình cung ứng thuốc, vật tƣ y tế tại Trung tâm Y tế thành phố Quy Nhơn. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THÔNG TIN KẾ TOÁN TRONG CHU TRÌNH CUNG ỨNG THUỐC, VẬT TƢ Y TẾ TẠI CÁC CƠ SỞ Y TẾ 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN 1.
Khái niệm hệ thống thông tin kế toán Hiện nay đối với bất kỳ tổ chức nào, HTTTKT đều thực hiện việc cung cấpthông tin cho việc ra quyết định ở tất cả các cấp quản lý của tổ chức. Hệ thống thông tin kế toán là bộ phận cấu thành quan trọng trong hệ thống thông tin quản lý bao gồm nguồn nhân lực, các phƣơng tiện, các phƣơng pháp kế toán đƣợc tổ chức khoa học nhằm thu thập, xử lý và cung cấp thông tin kế toán, các dữ liệu liên quan khác để tạo ra những thông tin góp phần bảo vệ, khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của tổ chức. Nhƣ vậy, HTTTKT thực hiện hai chức năng cơ bản: thông tin và kiểm tra về sự hình thành và vận động của tài sản nhằm bảo vệ, khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của tổ chức (Nguyễn Mạnh Toàn và Huỳnh Thị Hồng Hạnh, 2011) 1.Bản chất của hệ thống thông tin kế toán Để hiểu đƣợc bản chất của HTTTKT trƣớc hết phải xuất phát từ việc nghiên cứu các chức năng, nhiệm vụ và đối tƣợng của HTTTKT. Theo đó, HTTTKT thu thập, ghi nhận, lƣu trữ và xử lý dữ liệu kế toán và các dữ liệu liên quan khác để tạo ra những thông tin kế toán hữu ích phục vụ cho việc lập kế hoạch, kiểm soát, phối hợp, phân tích và ra quyếtđịnh.
HTTTKT gồm nhiều yếu tố cấu thành có mối liên hệ rất phức tạp. Các yếu tố cơ bản của hệ thống thông tin kế toán có thể đƣợc biểu diễn trên Hình 1.1 Dữ liệu đầu vào: là các dữ kiện từ các hoạt động kinh tế phát sinh nhƣ 9 mua vật tƣ, hàng hóa, bán hàng, thu tiền, các chi phí phát sinh, thanh toán tiền lƣơng, công nợ, đầu tƣ… Thông tin về các dữ liệu đầu vào đƣợc ghi nhận chủ yếu thông qua các chứng từ kế toán. Cơ sở hạ Phần tầng CNTT mềm Dữ liệu Thông tin kế toán kế toán Con ngƣời Kiểm soát Thủ tục, nội bộ quy trình Hình 1. Các yếu tố cấu thành hệ thống thông tin kế toán Nguồn: Nguyễn Mạnh Toàn, Huỳnh Thị Hồng Hạnh (2011) Quy trình xử lý: bao gồm các bƣớc công việc từ thu thập các dữ liệu kế toán, đến việc phân loại, xử lý, lƣu trữ, phân tích, tổng hợp các dữ liệu này để cung cấp các thông tin kế toán.
Quy trình xử lý của hệ thống thông tin kế toán rất phức tạp, đòi hỏi sự vận dụng hợp lý hệ thống các phƣơng pháp kế toán trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc, các chuẩn mực kế toán và hệ thống các phƣơng tiện kỹ thuật công nghệ thông tin. Trong điều kiện hạch toán thủ công, tùy thuộc đặc điểm kinh doanh, quy mô và yêu cầu cụ thể của ngƣời quản lý đơn vị mà việc tổ chức các nghiệp vụ ghi chép, xử lý và cung cấp thông tin có thể khác nhau nhƣng đều tuân theo một quy trình xử lý. - hi nhận: Là giai đoạn đầu trong quy trình kế toán, có chức năng thực hiện thu thập các dữ liệu của đơn vị liên quan đến các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh. - Xử lý: Là giai đoạn thứ hai sau khi ghi nhận trong quy trình kế toán.
10 Trên cơ sở các dữ liệu đ có, căn cứ vào chứng từ, kế toán thực hiện việc xử lý và cung cấp thông tin theo yêu cầu của quản lý. - B o c o: Đây là giai đoạn cuối cùng trong quy trình xử lý kế toán nhằm phục vụ cho nhu cầu thông tin của ngƣời sử dụng với sản phẩm đầu ra là các báo cáo kế toán của đơn vị. Để cung cấp thông tin tổng hợp và chi tiết ở các mức độ khác nhau, trong giai đoạn xử lý thông tin, quan trọng nhất là việc tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán để làm căn cứ cho việc phân loại và hệ thống hóa thông tin theo từng loại đối tƣợng kế toán, từng loại chỉ tiêu phục vụ nhu cầu thông tin của ngƣời sử dụng với phƣơng tiện vật chất biểu hiện là hệ thống các sổ kế toán. Đầu ra:là các thông tin kế toán đáp ứng theo yêu cầu của ngƣời sử dụng, bao gồm các đối tƣợng bên ngoài tổ chức, các cấp quản trị cũng nhƣ phục vụ hoạt động tác nghiệp tại các bộ phận bên trong tổ chức.
Phƣơng tiện biểu hiện những thông tin tổng hợp và chi tiết đ đƣợc xử lý để cung cấp cho ngƣời sử dụng là hệ thống báo cáo kế toán gồm Báo cáo tài chính và các Báo cáo kế toán quản trị. Trong điều kiện ứng dụng CNTT, đầu ra của hệ thống thông tin kế toán còn là tất cả những thông tin kế toán cần thiết phục vụ công tác quản lý và tác nghiệp mà các bộ phận chức năng có thể đƣợc phân quyền truy cập.TỔ CHỨC HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TẠI CÁC CƠ SỞ Y TẾ 1. Tổ chức thông tin kế toán theo phần hành Tổ chức thông tin kế toán theo phần hành này hƣớng đến đối tƣợng kế toán theo đó Nhân viên kế toán phần hành nào thì chịu trách nhiệm thu thập, kiểm tra tất cả các chứng từ liên quan và thực hiện việc cập nhật dữ liệu theo từng đối tƣợng kế toán thuộc phần hành đó. Cụ thể, kế toán các phần hành theo dõi và cung cấp thông tin về số dƣ đầu kỳ, tình hình phát sinh tăng, phát 11 sinh giảm trong kỳ và số dƣ cuối kỳ của từng đối tƣợng.
Ví dụ: Với phần hành kế toán thuốc, vật tƣ y tế, căn cứ vào các số liệu trên các phiếu nhập kho và phiếu xuất kho, kế toán phần hành chi tiết thuốc, vật tƣ y tế sẽ theo dõi sự biến động về số lƣợng, đơn giá, thành tiền vào sổ chi tiết mở cho từng loại vật tƣ theo trình tự thời gian. Toàn bộ chứng từ, các sổ kế toán chi tiết liên quan đến thuốc, vật tƣdo kế toán vật tƣ quản lý và lƣu trữ. Cuối kỳ, kế toán chi tiết vật tƣ sẽ tiến hành kiểm tra, cộng sổ để xác định giá trị từng loại vật tƣ tồn kho và lập Bảng tổng hợp Nhập - Xuất - Tồn cho toàn bộ vật tƣ, hàng hóa, trên cơ sở đó đối chiếu để đảm bảo khớp đúng với số liệu của kế toán tổng hợp. Trong các cơ sở y tế thƣờng có các phần hành kế toán chủ yếu nhƣ: - Kế toán tổng hợp chỉ đạo trực tiếp công tác hạch toán, đối chiếu số liệu giữa các loại sổ, lập các báo cáo quý, năm phục vụ quyết toán và quản lý.
- Kế toán thanh toán và công nợ: tập hợp chứng từ, phân loại, ghi sổ chi tiết, tổng hợp các khoản thanh toán, tạm ứng, thanh toán cán bộ công nhân viên, thanh toán với cơ quan nhà nƣớc, … - Kế toán tiền lƣơng: thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến việc tính và chi trả lƣơng và các khoản theo lƣơng, phụ cấp cho cán bộ, viên chức. 12 Trƣởng phòng Kế toán tổng hợp Kế Kế Kế Kế Kế Kế Kế Thủ toán toán toán toán toán toán toán quỹ thanh BH y viện Viện kho tài tiền toán tế phí, phí, dƣợc sản lƣơng và bảo bảo công hiểm hiểm nợ ngoại nội trú trú Hình 1. Tổ chức kế toán theo phần hành hiệu: Chỉ đạo trực tuyến Phối hợp chức năng - Kế toán viện phí, bảo hiểm nội trú: theo dõi tất cả các khoản thu của bệnh nhân nằm điều trị nội trú tại cơ sở y tế. - Kế toán viện phí, bảo hiểm ngoại trú: theo dõi tất cả các khoản thu của bệnh nhân điều trị ngoại trú nhƣ phí khám bệnh, phí thực hiện các kỹ thuật cận lâm sàng (xét nghiệm, chụp X quang, siêu âm, điện tim, .) - Kế toán Bảo hiểm y tế theo dõi tất cả các khoản thanh toán với bệnh nhân có thẻ bảo hiểm y tế.
- Kế toán kho dƣợc theo dõi tất cả các loại thuốc, vật tƣ y tế … nhập xuất 13 tồn tại cơ sở y tế. Định kỳ thực hiện kiểm kê các loại này theo quy định. Việc tổ chức bộ máy kế toán tại cơ sở y tế nhƣ trên hƣớng đến các đối tƣợng kế toán, chú trọng đến việc phân loại, thu thập, xử lý và cung cấp thông tin về tình hình và sự biến động theo từng loại tài sản và nguồn kinh phí trong quá trình hoạt động, phục vụ cho công tác cung cấp thông tin theo từng đối tƣợng kế toán, lập báo cáo tài chính và kiểm tra, bảo vệ tài sản của đơn vị. Tổ chức thông tin kế toán theo chu trình Việc tổ chức công tác kế toán theo phần hành độc lập đáp ứng đƣợc yêu cầu về cung cấp thông tin theo từng đối tƣợng kế toán, lập báo cáo tài chính và kiểm tra bảo vệ tài sản của cơ sỏ y tế.
Tuy nhiên, thông tin kế toán cung cấp ngày càng đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý, điều hành các hoạt động của cơ sở y tế. Tất cả các bộ phận trong cơ sở y tế đều cần thông tin do kế toán cung cấp và ngƣợc lại kế toán không phải là điểm khởi đầu mà thƣờng là ghi nhận và tiếp tục xử lý kết quả của các bộ phận khác trong toàn hệ thống cơ sở y tế. Do vậy, việc tổ chức dữ liệu kế toán theo từng phần hành một cách riêng lẻ, độc lập sẽ không giúp khai thác, kế thừa hết các dữ liệu và thông tin từ các bộ phận chức năng khác. Hơn nữa việc chia sẻ thông tin giữa các bộ phận trong điều kiện tổ chức thông tin kế toán theo phần hành còn nhiều hạn chế tại cơ sở y tế.
Mặt khác, trong quá trình hoạt động của các cơ sở y tế có những công việc lặp đi lặp lại một cách thƣờng xuyên, liên tục theo một trình tự (chu trình) nhất định qua nhiều khâu, nhiều giai đoạn do nhiều bộ phận, nhiều cá nhân tham gia thực hiện, trong đó có sự tham gia tích cực của các phần hành kế toán.