Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về vốn lưu động và sự cần thiết phải hoàn thiện công tác sử dụng vốn lưu động. Chương 2: Thực trạng công tác sử dụng vốn lưu động tại Trung tâm điều hành kinh doanh in Viettel. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác sử dụng vốn lưu động tại Trung tâm điều hành kinh doanh in Viettel. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN CÔNG TÁC SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG 1.
Vốn lưu động trong hoạt động sản xuất kinh doanh 1. Khái niệm vốn lưu động Trong nền kinh tế quốc dân, mỗi doanh nghiệp được coi như một tế bào của nền kinh tế với nhiệm vụ chủ yếu là thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ cung cấp cho xã hội. Doanh nghiệp có thể thực hiện một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm lao vụ, dịch vụ trên thị trường nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cần phải có tư liệu sản xuất, đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động.
Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp các yếu tố đó để tạo ra sản phẩm hàng hoá, dịch vụ. Khác với tư liệu lao động, đối tượng lao động khi tham gia vào quá trình LVTS Quản trị kinh doanh sản xuất kinh doanh luôn thay đổi hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm và được bù đắp khi giá trị sản phẩm được thực hiện. Biểu hiện dưới hình thái vật chất của đối tượng lao động gọi là tài sản lưu động, TSLĐ của doanh nghiệp gồm TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông. TSLĐ sản xuất gồm những vật tư dự trữ để chuẩn bị cho quá trình sản xuất được liên tục, vật tư đang nằm trong quá trình sản xuất chế biến và những tư liệu lao động không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định.
Thuộc về TSLĐ sản xuất gồm: Nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, sản phẩm dở dang, công cụ lao động nhỏ. TSLĐ lưu thông gồm: sản phẩm hàng hoá chưa tiêu thụ, vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán. Quá trình sản xuất của doanh nghiệp luôn gắn liền với quá trình lưu thông. Trong quá trình tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông luôn chuyển hoá lẫn nhau, vận động không ngừng làm cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục trong điều kiện nền kinh 5 tế hàng hoá - tiền tệ.
Để hình thành nên tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông, doanh nghiệp cần phải có một số vốn thích ứng để đầu tư vào các tài sản ấy, số tiền ứng trước về những tài sản ấy được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp. Như vậy, vốn lưu động của các doanh nghiệp sản xuất là số tiền ứng trước về tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục nên vốn lưu động cũng vận động liên tục, chuyển hoá từ hình thái này qua hình thái khác. Sự vận động của vốn lưu động qua các giai đoạn có thể mô tả bằng sơ đồ sau: T T-H-SX-H’- T’ ΔT Đối với doanh nghiệp thuộc lĩnh vực thương mại, quá trình vận động của vốn lưu động theo trình tự sau: LVTS Quản T trị kinh doanh T-H- T’ ΔT Sự vận động của vốn lưu động trải qua các giai đoạn và chuyển hoá từ hình thái ban đầu là tiền tệ sang các hình thái vật tư hàng hoá và cuối cùng quay trở lại hình thái tiền tệ ban đầu gọi là sự tuần hoàn của vốn lưu động.
Cụ thể là sự tuần hoàn của vốn lưu động được chia thành các giai đoạn như sau: - Giai đoạn 1 (T-H): khởi đầu vòng tuần hoàn, vốn lưu động dưới hình thái tiền tệ được dùng để mua sắm các đối tượng lao động để dự trữ cho sản xuất. Như vậy ở giai đoạn này vốn lưu động đã từ hình thái tiền tệ chuyển sang hình thái vốn vật tư hàng hoá. - Giai đoạn 2 (H-SX-H’): ở giai đoạn này doanh nghiệp tiến hành sản xuất ra sản phẩm, các vật tư dự trữ được đưa dần vào sản xuất. Trải qua quá trình sản xuất các sản phẩm hàng hoá được chế tạo ra.
Như vậy ở giai đoạn này vốn lưu động đã 6 từ hình thái vốn vật tư hàng hoá chuyển sang hình thái vốn sản phẩm dở dang và sau đó chuyển sang hình thái vốn thành phẩm. - Giai đoạn 3 (H’-T’): doanh nghiệp tiến hành tiêu thụ sản phẩm và thu được tiền về và vốn lưu động đã từ hình thái vốn thành phẩm chuyển sang hình thái vốn tiền tệ trở về điểm xuất phát của vòng tuần hoàn vốn. Vòng tuần hoàn kết thúc. So sánh giữa T và T’, nếu T’ >T có nghĩa doanh nghiệp kinh doanh thành công vì đồng vốn lưu động đưa vào sản xuất đã sinh sôi nảy nở, doanh nghiệp bảo toàn và phát triển được VLĐ và ngựơc lại.
Đây là một nhân tố quan trọng đánh giá hiệu quả sử dụng đồng VLĐ của doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn: Nợ hoạt động ngắn - Khách hàng hạn: - Hàng tồn kho - Nhà cung cấp - Các tài sản ngắn FNOs - Lương nhân viên hạn khác - Thuế Nợ vay ngắn hạn LVTS Quản trị kinh doanh Vốn dài hạn: Vốn vay dài hạn Vốn chủ sở hữu Tài sản cố định: - Máy móc Vốn lưu động thuần - Nhà xưởng - Tài sản cố định khác Hình 1. Vốn lưu động trên thể hiện trên bảng cân đối kế toán (Lorenzo A.Preve, 2010) Vốn lưu động thuần là thuật ngữ dùng để chỉ giá trị chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và các khoản nợ ngắn hạn: Vốn lưu động thuần = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn.Nguyễn Thu Thủy, 2011). Đi cùng với định nghĩa trên là định nghĩa về tài chính cần cho hoạt động (Financial Needs for Operation – FNOs): 7 FNOs = Tài sản ngắn hạn – Nợ hoạt động ngắn hạn.
Đặc điểm vốn lưu động VLĐ luân chuyển với tốc độ nhanh và hoàn thành một vòng tuần hoàn sau khi kết thúc một chu kỳ sản xuất kinh doanh. VLĐ trong doanh nghiệp luôn thay đổi hình thái biểu hiện trong quá trình tuần hoàn luân chuyển. VLĐ chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất mà không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm. VLĐ vận động theo một vòng tuần hoàn, từ hình thái này sang hình thái khác rồi trở về hình thái ban đầu với một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu.
Chu kỳ vận động của VLĐ là cơ sở quan trọng đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ trong doanh nghiệp. Phân loại vốn lưu động 1. Căn cứ vào tính chất thanh khoản LVTS Quản trị kinh doanh - Vốn bằng tiền và các khoản tương đương tiền: gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển; - Các khoản phải thu: Gồm phải thu khách hàng; tạm ứng chi phí trả trước; thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn; phải thu nội bộ; các khoản phải thu khác; - Vốn hàng tồn kho: Thực chất đây là các loại hàng dự trữ của doanh nghiệp, bao gồm: nguyên vật liệu tồn kho, công cụ, dụng cụ, sảm phẩm dở dang, thành phẩm, hàng hóa, hàng mua đang đi đường, hàng gửi bán nhưng chưa xác định tiêu thụ. Căn cứ hình thái vật chất - Vốn vật tư, hàng hóa: Bao gồm vốn nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, vốn sản phẩm đang chế tạo, vốn chi phí chờ phân bổ, vốn thành phẩm, vốn hàng hóa.
- Vốn tiền tệ: Bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, vốn thanh toán. Các khoản vốn này nằm trong lĩnh vực lưu thông luôn biến động, luân chuyển không theo một quy luật nhất định nhưng thời gian chiếm dụng nói chung không dài. Các khoản vốn này không trực tiếp tham gia quá trình sản xuất nên nó càng luân chuyển nhanh càng tốt. Căn cứ vai trò VLĐ trong quá trình tái sản xuất: toàn bộ VLĐ được chia thành 3 loại sau: - VLĐ nằm trong quá trình dự trữ sản xuất: loại này bao gồm các khoản vốn : + Vốn nguyên vật liệu là số tiền biểu hiện giá trị các loại vật tư dự trữ cho sản xuất.
+ Vốn phụ tùng thay thế bao gồm giá trị những phụ tùng, linh kiện dự trữ để thay thế mỗi khi sửa chữa tài sản cố định. + Vốn công cụ và dụng cụ. - Vốn lưu động nằm trong quá trình trực tiếp sản xuất: Bao gồm các khoản vốn: + Vốn sản phẩm dở dang trong quá trình chế tạo hoặc đang nằm trên các địa điểm làm việc đợi chế biến tiếp. + Vốn về chi phí trả trước là những chi phí chi ra trong kỳ nhưng chưa tính vào giá thành trong kỳ mà sẽ tính vào giá thành các kỳ sau.
- Vốn lưu động nằm trong quá trình lưu thông: LVTS Quản trị kinh doanh + Vốn thành phẩm; + Vốn hàng hóa mua ngoài; + Vốn hàng hóa gửi bán nhưng chưa xác định tiêu thụ; + Vốn bằng tiền bao gồm tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển. + Vốn thanh toán là những khoản phải thu phát sinh trong quá trình mua, bán hàng hóa hoặc thanh toán nội bộ. Theo cách phân loại này thì có thể thấy được tỷ trọng vốn lưu động nằm trong lĩnh vực sản xuất vật chất càng lớn thì hiệu quả kinh tế trong việc sử dụng vốn lưu động càng cao. Vì vậy cần phải chú ý tỷ lệ vốn trong các khâu hoạt động một cách hợp lý.
Bùi Hữu Phước, 2014). Kết cấu vốn lưu động và các nhân tố ánh hưởng đến kết cấu vốn lưu động Trước khi bàn về kết cấu vốn lưu động, ta tìm hiểu các thành phần tạo nên vốn lưu động. 9 Như đã đề cập trên, vốn lưu động thuần là chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn. Do đó, vốn lưu động thuần sẽ bao gồm các yếu tố sau đây: Tiền mặt và các khoản tương đương tiền (cash and cash equivalents): tiền mặt bao gồm một phần tiền mặt tại doanh nghiệp và phần lớn là tiền gửi ngân hàng.
Trong khi đó, các khoản tương đương tiền bao gồm các khoản đầu tư ngắn hạn mà có thể nhanh chóng chuyển thành tiền mặt trong thời gian ngắn.