phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc chia làm 4 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: - Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết: trình bày những vấn đề lý thuyết liên quan đến các khái niệm thành ngữ, thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt và tiếng Hàn. - Chƣơng 2: Thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt: thống kê và phân tích những thành ngữ gốc Hán đang có trong tiếng Việt qua các bình diện nguồn gốc, cấu trúc và ngữ nghĩa. - Chƣơng 3: Thành ngữ gốc Hán trong tiếng Hàn: thống kê và phân tích những thành ngữ gốc Hán đang có trong tiếng Hàn qua các bình diện nguồn gốc, cấu trúc và ngữ nghĩa. - Chƣơng 4: So sánh đối chiếu thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt và tiếng Hàn qua các bình diện cấu trúc và ngữ nghĩa 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.
Quan niệm thành ngữ trong tiếng Việt Thành ngữ là gì? Đó vẫn là câu hỏi đến nay vẫn chƣa có đƣợc khái niệm chính xác. Khi nghiên cứu về thành ngữ tiếng Việt, giới Việt ngữ học đã đƣa ra một số định nghĩa về thành ngữ. Dƣơng Quảng Hàm [3] (1951), trong 《Việt Nam văn học sử yếu》 quan niệm: “Thành ngữ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý gì hoặc một trạng thái gì cho có màu mè.” Hồ Lê [8] (2003) trong 《Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại》 coi thành ngữ là “những tổ hợp từ có tính vững chắc về cấu tạo và tính bóng bẩy về ý nghĩa dùng để miêu tả một hình ảnh, một hiện tƣợng, một tính cách hay một trạng thái nào đó.” Nhà ngôn ngữ học Nguyễn Văn Tu [17](1968) trong 《Từ vựng học tiếng Việt hiện đại》thì cho rằng: “Thành ngữ là từ tố cố định mà các từ trong đó đã mất tính độc lập đến một trình độ cao, kết hợp làm thành một khối vững chắc, hoàn chỉnh. Nghĩa của chúng không phải do nghĩa của từng yếu tố tạo ra.
Những thành ngữ này cũng có hình tƣợng hoặc cũng có thể không có. Nghĩa của chúng đã khác nghĩa của những từ nhƣng cũng có thể cắt nghĩa nguyên do nhƣ từ nguyên học.” Nguyễn Thiện Giáp [15] (2008) trong 《Giáo trình ngôn ngữ học》 quan niệm: “Thành ngữ (idiom) là những cụm từ trong cơ cấu cú pháp và ngữ nghĩa của chúng có những thuộc tính đặc biệt, chỉ có ở cụm từ đó. Nói cách khác, thành ngữ là một cụm từ mà ý nghĩa của nó không đƣợc tạo thành từ ý nghĩa của các từ cấu tạo nên nó.” Ngoài ra trong cuốn 《Từ vựng học tiếng Việt》 [14] , ông đã định nghĩa thành ngữ một cách rất ngắn gọn: “Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm”. Trong 《Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ》, Hoàng Văn Hành [9](2002) xác định “Theo cách hiểu thông thƣờng, thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com định, bền vững về hình thái - cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, đƣợc sử dụng rộng rãi trong giao tiếp thƣờng ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ”.
Nguyễn Nhƣ Ý [19] (2004) thì cho rằng: Thành ngữ là “cụm từ hay ngữ cố định có tính nguyên khối về ngữ nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung, khác tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu thành nó, tức là không có nghĩa đen và hoạt động nhƣ một từ riêng biệt trong câu”. Các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến [13] (2001), trong 《Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt》 xem thành ngữ là “cụm từ cố định hoàn chỉnh về cấu trúc và ngữ nghĩa. Nghĩa của chúng có tính hình tƣợng và gợi cảm”. Khi nghiên cứu về thành ngữ, nói chung các học giả Việt Nam đã đƣa ra nhiều điểm khá thống nhất.
Tuy nhiên, đi vào chi tiết, việc quan niệm về thành ngữ giữa các tác giả không phải không có những ý kiến khác nhau. Tóm lại, thành ngữ thƣờng đƣợc nhận dạng với hai tiêu chí (hình thức tổ chức và nội dung) cụ thể: - Tổ hợp từ hay cụm từ cố định (xét về cấu trúc). - Có ý nghĩa hoàn chỉnh, ý nghĩa của thành ngữ không phải là phép cộng đơn thuần mà có tính bóng bẩy, gợi cảm và hình tƣợng. Quan niệm thành ngữ trong tiếng Hàn Theo 《từ điển Quốc ngữ tiêu chuẩn》 [13], định nghĩa của thành ngữ nhƣ này : Thành ngữ : 1.
Hình thành lời nói 2. Lời nói do ngƣời xƣa tạo ra 3. là những quán dụng ngữ (cụm từ bao gồm hai từ trở lên, có nghĩa đặc biệt không thể suy đoán đƣợc toàn bộ ý nghĩa qua mỗi từ) Hwang, Eun-young [14] (2005) cho rằng thành ngữ là một biểu hiện đƣợc phản ánh kinh nghiệm cuộc sống của tiền nhân ta, nó là sự kết hợp của 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hai hoặc nhiều từ vựng và đƣợc sử dụng nhƣ một cụm từ mang nghĩa thứ ba. Nhà nghiên cứu này cũng định nghĩa thành ngữ cổ sự nhƣ „Những thành ngữ đƣợc sử dụng rộng rãi trong cuộc sống hàng ngày, dựa trên kinh nghiệm của tổ tiên chúng ta.
Từ những câu chuyện xa xƣa, chúng ta lấy đƣợc trí tuệ và bài học qua đó và những cái đó vẫn duy trì sức sống cho đến nay. Theo Lee, Sang-Jeong [15](2008), đặc điểm của thành ngữ nhƣ sau : 1. Thành ngữ là cổ ngữ đƣợc sử dụng phổ biến trong xã hội (ý cổ ngữ ở đây, nên đƣợc hiểu là lời nói phổ biến đƣợc tạo ra trƣớc đây). Thành ngữ là ngôn ngữ cố định.
: Những cái đó đã đƣợc sử dụng nhƣ một từ trong một thời gian dài với các từ và trật tự từ cố định. Hầu hết thành ngữ có nguồn và mang tính văn viết đậm nét và hình thức cơ bản của thành ngữ là bốn âm tiết. Định nghĩa của thành ngữ trong từ điển bên Hàn[16] nhƣ sau: “Thành ngữ là lời nói thƣờng đƣợc lấy trong cuộc sống từ ngày xƣa, đƣợc sử dụng mang nghĩa đặc biệt nhƣ thói quen” Một từ điển khác định nghĩa thành ngữ nhƣ “Thành ngữ chứa đựng xã hội lịch sử lâu dài và văn hóa dân tộc sâu sắc, bao gồm hai từ trở lên, là một cụm từ cố định đƣợc sử dụng nhƣ một từ trong câu và nhiều ngƣời sử dụng nhƣ thói quen.” Và “thành ngữ gốc Hán trong tiếng Hàn thƣờng là những “thành ngữ bốn âm tiết là lời nói đƣợc hình thành bằng 4 âm tiết, chứa đựng bài học hoặc có nguồn gốc từ xa xƣa”. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Và nhiều thành ngữ hán tự có nguồn gốc từ chuyện cổ xa xƣa nên tên gọi “thành ngữ cổ sự” cũng phổ biến.
Nhƣ vậy, các tên gọi “thành gữ Hán tự”, “thành ngữ bốn âm tiết” và “thành ngữ cổ sự” đƣợc sử dụng khá phổ biến, thông dụng. Thành ngữ Hán tự là thành ngữ bằng chữ Hán và là một thể loại nói chung bao gồm thành ngữ bốn âm tiết và thành ngữ cổ sự, và việc thành ngữ đƣợc gọi tên khác nhau là tùy thuộc vào số âm tiết của thành ngữ hoặc nguồn gốc, câu chuyện cũ liên quan đến thành ngữ. Thành ngữ chữ Hán (thành ngữ Hán tự) hoặc thành ngữ lịch sử cổ sự chúa đựng nội dung mang tính thí dụ, mang tính thƣờng xuyên miêu tả trƣờng hợp, tình cảm, tâm lý của con ngƣời. Chúng đƣợc sử dụng nhiều trong đời sống thƣờng ngày hoặc trong văn viết.
Phân biệt thành ngữ với các kiểu loại đơn vị khác Muốn hiểu rõ thế nào là thành ngữ, cách phổ biến là ngƣời ta phân biệt nó với các loại đơn vị khác: thứ nhất là phân biệt thành ngữ với từ ghép; thứ hai là phân biệt thành ngữ với những kiểu cụm từ cố định khác nhƣ tục ngữ, quán ngữ, đặc ngữ, cách ngôn; và thứ ba là phân biệt thành ngữ với cụm từ tự do. Phân biệt thành ngữ và từ ghép Cả hai loại đơn vị này đều là các đơn vị có sẵn trong kho từ vựng của một ngôn ngữ. Cả từ ghép và thành ngữ đều là những tổ hợp cố định về hình thức, nguyên khối về cấu trúc nhƣng ở bình diện này, các nhà nghiên cứu đã chính xác khi cho rằng “mối quan hệ ngữ pháp trong thành ngữ phức tạp hơn, nhiều bậc hơn, còn ở từ ghép mối quan hệ ngữ pháp đơn giản, ít bậc hơn” [13]. “quan hệ nội bộ ở thành ngữ phức tạp hơn ở từ ghép.
có thể phân tích ra hai hoặc hơn hai quan hệ ngữ pháp khác nhau” [10]. Cái phân biệt hai loại đơn vị này chính là cơ cấu biểu nghĩa, theo đó nghĩa của thành ngữ là nghĩa của loại “đơn vị định danh bậc hai” và là loại ý nghĩa có tính “biểu trƣng hoá” 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Phân tích của Nguyễn Văn Khang [16] khi viết lời bạt cuốn 《Thành ngữ học tiếng Việt》 của cố GS. Hoàng Văn Hành [10],về đặc trƣng ngữ nghĩa của thành ngữ là hoàn toàn xác đáng: “Tính hoàn chỉnh về nghĩa của thành ngữ đƣợc ông lý giải từ góc độ nghĩa định danh.
“Song, khác với các đơn vị định danh bình thƣờng, thành ngữ là loại các đơn vị định danh bậc hai”. Với cách nhìn này ông cho rằng thành ngữ là đơn vị từ vựng có lƣợng nghĩa đôi và hai nghĩa này gần nhƣ song song tồn tại: nghĩa đen là cơ sở là gốc, nghĩa bóng hay nghĩa phái sinh là nghĩa đƣợc sử dụng trong hành chức, là nghĩa hình thành qua quá trình biểu trƣng hoá. Biểu trƣng hoá về nghĩa của thành ngữ, theo ông, thể hiện dƣới hai hình thức: hình thức so sánh (ẩn dụ hoá) và hình thức ẩn dụ (so sánh ngầm)” 1. Phân biệt thành ngữ với quán ngữ Đối chiếu với quán ngữ thì sự khác nhau giữa hai loại đơn vị này khó phân biệt hơn bởi lẽ, chúng đều là cụm từ cố định, đều đƣợc cấu tạo từ một số lƣợng khá lớn các đơn vị âm tiết, mối quan hệ giữa các thành tố cấu tạo của hai loại đơn vị này cũng phức tạp hơn mối quan hệ giữa các đơn vị của từ ghép, chúng cũng có điểm giống nhau về chức năng tạo câu.
Dù vậy, các nhà Việt ngữ học cũng đã phân biệt thành công hai loại đơn vị này trên cơ sở xem xét các đặc điểm về: Mức độ cố định trong cấu trúc hình thức, tính hoàn chỉnh, bóng bẩy về nghĩa.