Chương 1: VĂN XUÔI VIỆT NAM SAU 1975 VÀ TIỂU THUYẾT NGUYỄN TRỌNG OÁNH 1.1 Từ tính tất yếu của đổi mới văn học Việt Nam sau 1975 1. Những nhân tố nền tảng: Điều kiện lịch sử - xã hội Cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc năm 1975 đã mở ra thời kỳ mới cho dân tộc Việt Nam: Đất nước thống nhất đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hiện thực cuộc sống chuyển từ thời chiến sang thời bình, khắc phục hậu quả của chiến tranh và đi lên xây dựng đất nước. Những con người một thời đã sống và chiến đấu trong bom đạn của chiến tranh, giờ trở về với cuộc sống thường nhật, với gia đình và công việc.
Cũng từ đây, những giá trị thẩm mỹ mới cũng được hình thành trong mối quan hệ với các giá trị cũ. Trước những thử thách của hoàn cảnh mới đã đặt ra yêu cầu đổi mới đất nước trong mọi phương diện, từ kinh tế, chính trị, xã hội đến văn hóa, nghệ thuật… Và yêu cầu đó không chỉ của toàn dân tộc, mà còn đặt ra cho mỗi cá nhân, gắn với sự nhận thức lại những hệ giá trị cũ và sáng tạo cho phù hợp với tình hình thực tiễn. Do vậy, từ sau khi chiến tranh kết thúc, các kỳ Đại hội Đảng diễn ra dưới sự điều hành của Đảng là sự định hướng và hoạch định đường lối cho một giai đoạn phát triển mới trên mọi phương diện của đất nước. Trong đó, văn học – nghệ thuật cũng là một trong những nhân tố cơ bản của đổi mới.
Những năm kháng chiến, văn học đã hoàn thành vai trò và sứ mệnh là tiếng nói của Cách mạng, của quần chúng, trở thành công cụ phục vụ đắc lực cho cuộc chiến đấu của dân tộc. Những nhà văn, nhà thơ hăng hái vào chiến trường, vừa tham gia chiến đấu và sáng tác với những tác phẩm phản ánh sức mạnh đấu tranh của cả dân tộc, mang đậm dấu ấn sử thi và những con người quần chúng mang tầm vóc dân tộc. Thế nhưng, trong một bối cảnh mới, khi cả đất nước đang nỗ lực đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, với định hướng nền kinh tế thị trường đã tác động không nhỏ đến nhận thức và suy nghĩ của con người về mọi giá trị. Những thước đo giá trị mới bắt đầu được hình thành, những chuẩn mực mới 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cũng được đặt ra trên mọi phương diện.
Con người cũng trở về với cuộc sống thường nhật, với những lo toan đời thường, với những suy nghĩ mang tính cá nhân, với cái tốt và cái xấu cùng hiện hữu trong đời sống. Do vậy, những biến đổi trong đời sống đã trở thành nhân tố cơ bản tác động đến sự phát triển của văn học. Nhà nghiên cứu văn học Nguyên Ngọc đã nhìn nhận rất sắc bén về tình hình văn học – văn xuôi sau 1975: “Sau 1975, trong ào ạt tưng bừng hồ hởi đại thắng, bỗng dưng xuất hiện một tình trạng rất kỳ: xuất hiện sự lạnh nhạt hẳn đi trong quan hệ giữa công chúng và sáng tác. Trong khi các nhà văn chúng ta say sưa: bây giờ hòa bình, vốn sống tích lũy bao nhiêu năm ăm ắp như ‘cá tức trứng’ muốn đẻ lắm rồi, thì giờ thì thừa mứa ra đó, bom đạn căng thẳng hết rồi, vật chất cũng đỡ khốn khó hơn nhiều, tha hồ mà viết, viết cho hết, cho đã… thì bỗng dưng cái mối quan hệ vốn rất thắm thiết máu thịt giữa văn học và công chúng, giữa sáng tác và người đọc đột nhiên lạnh nhạt hẳn đi, hụt hẫng hẳn đi… Tình trạng của nhiều nhà văn chúng ta bây giờ đúng là cái “tình trạng ngày càng khôi hài… anh ta cứ tiếp tục nói, lảm nhảm nói, nhưng là nói vào chỗ trống không” [30;9-10].
Nhà nghiên cứu tiếp tục ví thời kỳ văn học sau 1975 như một “khoảng chân không văn học” mà “âm không truyền đi được”. Cái hiện tượng mà Nguyên Ngọc đã gọi là “khoảng chân không văn học” ấy chính là một hệ quả tất yếu của những thay đổi căn bản trong đời sống xã hội. Khi hoàn cảnh lịch sử bước sang một trang mới, cuộc sống của mỗi con người cũng bị tác động với những thay đổi phù hợp. Một hiện thực mới được hình thành, không còn chiến tranh, bom đạn và những nỗ lực của cả cộng đồng cho mục tiêu lớn của dân tộc được thay thế bằng cuộc sống của thời bình, với những lo lắng cho đời sống thường nhật, cho mỗi gia đình, mỗi cá nhân.
Hiện thực ấy tạo nên nguồn chất liệu mới cho nhà văn sáng tạo nghệ thuật, là “mảnh đất mầu mỡ” để nhà văn khai thác và thể nghiệm. Đồng thời, như một sự tất yếu, khi nguồn chất liệu sáng tạo của nghệ thuật thay đổi cũng đặt ra những yêu cầu mới cho nhà văn. Đó chính là yêu cầu của một sự thích nghi với hoàn cảnh mới. Nhà văn không phải chỉ say sưa với sự ca ngợi, hay viết lại những điều đã cũ về cuộc chiến tranh, về nhân dân, dân tộc và cả cộng đồng.
Thực tế đòi hỏi nhà văn 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com không chỉ phải biết sáng tạo nên những cái mới từ những điều đã cũ mà cần biết tìm tòi, sáng tạo từ hiện thực mới. Văn học đặt ra một thách thức, người cầm bút cần phải có sự nhận thức lại với chính mình, cần sự thay đổi trong tư duy, trong cách nhìn nhận hiện thực, con người và sự sáng tạo trong cách viết: “Rõ ràng, văn học đang cần một sinh khí, một sức mạnh có khả năng khai phóng” [6;14]. Hơn lúc nào hết, nhu cầu nhận thức lại như được chắp thêm đôi cánh từ sự định hướng đúng đắn của Đảng. Các kỳ đại hội Đảng diễn ra, đặc biệt là Đại hội Đảng lần thứ VI đã thực sự tạo nên một “làn gió mới dân chủ và cởi mở của Đảng” [6;15].
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh ví nền văn học Việt Nam sau 1975 là một cuộc “nhận đường mới” với “khó khăn, phức tạp hơn nhiều”. Mặc dù quá trình đổi mới văn học không hoàn toàn gắn liền với công cuộc đồi mới của đất nước. Bởi đó là một chặng đường mà sự đổi mới đã có những bước “manh nha” từ trước đó, với một quá trình phát triển có sự kết hợp của những nhân tố cũ và mới của văn học. Thế nhưng, với những đường lối đổi mới được đưa ra từ các kỳ Đại hội Đảng và đặc biệt là Đại hội Đảng lần VI (1986), đã thực sự có những tác động lớn với những ý nghĩa sâu sắc đến công cuộc đổi mới của văn học: “Sự sáng suốt trong lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam tập trung biểu hiện ở khả năng nhạy bén phát hiện ra những vấn đề của đời sống, phản ánh kịp thời trong các nghị quyết, chỉ thị về văn hóa, văn nghệ, để chỉ đạo có hiệu quả thực tiễn sáng tạo đặc thù của nghệ thuật” (Nguyễn Văn Long).
Từ Đại hội Đảng lần thứ V (1982), những yêu cầu sáng tạo đã bước đầu được đặt ra: “Đảng khuyến khích mọi tìm tòi, sáng tạo, khuyến khích sự phát triển của phong cách và tài năng nghệ thuật” [31]. Mặc dù vậy, nền văn học giai đoạn này vẫn chưa có nhiều khởi sắc, đúng như nhận xét của cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh: “Tôi có cảm giác trong hơn 10 năm qua, so với cuộc kháng chiến trước đó, thành tựu của văn học chúng ta còn nghèo”. Quá trình đổi mới chỉ thực sự có những bước chuyển biến từ sau Đại hội Đảng lần VI (1986), với định hướng: “văn hóa văn nghệ nước ta càng phải đổi mới, đổi mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, cách làm”. Trong đó, nghị quyết của Bộ Chính trị đặc biệt nhấn mạnh: “Đảng khuyến khích văn nghệ sỹ tìm tòi sáng tạo, khuyến khích và yêu 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cầu có những thể nghiệm mạnh bạo và rộng rãi trong sáng tạo nghệ thuật và phát triển các loại hình và thể loại nghệ thuật, các hình thức biểu hiện” [6;15].
Tiếp theo đó, tại Đại hội Đảng lần VII (1991) tiếp tục khẳng định quan điểm: “Văn học nghệ thuật là một bộ phận quan trọng trong nền văn hóa, gắn bó với đời sống nhân dân và sự nghiệp Cách mạng của Đảng lao động, khuyến khích tự do sáng tạo văn học nghệ thuật vì sự hoàn thiện con người, đồng thời bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm cao đẹp, đề cao tư tưởng tự hào dân tộc, ý chí tự lực tự cường, phấn đấu làm cho dân giàu, nước mạnh, phê phán thói hư, tật xấu, thói độc ác, cái thấp hèn…” [31]. Những kỳ Đại hội với đường lối văn nghệ đúng đắn đã xác định rõ vị trí, vai trò nhiệm vụ của văn nghệ - văn học trong đời sống xã hội và chỉ ra những đối tượng mà văn học cần phản ánh cùng đối tượng phục vụ. Đường lối ấy đã tác động đến sự phát triển của văn học nói chung mà trực tiếp là chính những người làm văn học, hình thành nên những quan điểm, tư tưởng và thái độ mới trong sáng tạo nghệ thuật. Văn học nghệ thuật đã thực sự được “cởi trói”, nhà văn được “lột xác” với những thể nghiệm mới, đời sống văn học trở nên sôi động hơn bao giờ hết, đúng như đánh giá của nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Bình: “Lớp người viết xuất hiện từ sau Đại hội Đảng VI đã tạo nên ấn tượng rõ rệt về một tinh thần thẩm mỹ mới.
Văn chương của họ đúng là tiếng nói của ý thức cá nhân ở một thời đại mà kinh nghiệm nghệ thuật cùng kinh nghiệm về chân lý khác nhiều so với lớp cha anh. Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Tạ Duy Anh, Phan Thị Vàng Anh, Hồ Anh Thái… đem lại cho văn xuôi nước ta cả cái “mới” lẫn cái “lạ” [6;17]. Sự sôi động của các hoạt động văn học nghệ thuật sau 1975 Những đường lối của Đảng nhằm khuyến khích sự phát triển văn học theo xu hướng dân chủ, cởi mở đã mở ra thời kỳ mới cho văn học Việt Nam. Trên mọi diễn đàn văn học nghệ thuật, từ các nhà văn, nhà phê bình, nghiên cứu, các dịch giả đến công chúng yêu văn học đều tham gia tích cực với những tác phẩm, bài viết, bài bình luận, các công trình nghiên cứu và dịch thuật.
Thêm vào đó, sự tác động của cơ chế thị trường càng tạo thêm nhiều điều kiện cho văn học phát 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com triển: “Việc in ấn và giới thiệu ấn phẩm chưa bao giờ rộng rãi, dễ dàng, thuận tiện” [25;97].