Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu Chương 2: Tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học Sinh học 9, Trung học cơ sở. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lƣợc sử nghiên cứu 1. Lược sử nghiên cứu về GDMT 1.
Trên thế giới Vấn đề GDMT được quan tâm trên toàn thế giới kể từ Hội nghị liên hợp quốc về Môi trường và Con người tổ chức ở Stockholm (Thụy Điển) năm 1972. Tiếp sau đó là Hội thảo quốc tế về GDMT được tổ chức năm 1975 ở Belgrade. Tại đây, hiến chương Belgrade đã nêu rõ mục tiêu về giáo dục môi trường nhằm nâng cao một cách toàn diện nhận thức, tri thức, hành vi, kỹ năng, khả năng đánh giá các vấn đề nảy sinh về MT và ý thức trách nhiệm của mọi người tham gia một cách tự giác và tích cực vào các hoạt động BVMT. Đến tháng 10 năm 1977, Hội nghị liên minh các chính phủ của UNESCO về GDMT ở Tbilisi.
Đặc biệt, hội nghị thượng đỉnh về Trái Đất tại Rio de Janeiro (Brazin) năm 1992 đã ra bản hiến chương 21 xác định chiến lược hành động cho loài người về môi trường và phát triển ở thế kỷ XXI, trong đó có hành động xem xét lại tình hình giáo dục môi trường và đưa nội dung giáo dục môi trường vào chương trình giáo dục cho tất cả các cấp học. Đây cũng là một trong những mục tiêu chủ yếu của chương trình giáo dục môi trường Quốc tế (IEEP) của UNESCO và UNEP. Trên thế giới hiện nay vấn đề GDMT được nghiên cứu và thực hiện ở nhiều nước như Anh, Ấn độ, Mỹ, Úc, Canada, Ý, Tây Ban Nha theo những cách khác nhau. Ở Mỹ, GDMT khá sôi nổi với tổ chức nổi tiếng là Liên đoàn quốc gia bảo vệ cuộc sống hoang dã (NWF).
Ở Pháp, Bộ Giáo dục đặc biệt quan tâm và luôn luôn kết hợp với các tổ chức quốc tế, các hội đoàn, các tổ chức địa phương, các cấp chính quyền, các vườn quốc gia để đưa “chương trình hành động giáo dục” ( PAE ) vào các 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trường tiểu học và trung học. Đối với các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, vấn đề GDMT đã được quan tâm và triển khai ngay sau hội nghị Stockhon. Nhiều nước trong khu vực, ngoài tổ chức chính phủ, GDMT còn được nhiều tổ chức phi chính phủ như: Ở Philipin, từ 1974 Bộ Giáo dục và Văn hoá đã quyết định đưa GDMT vào bậc tiểu học. Australia đã lập dự án quốc gia về GDMT cũng từ 1974, và đã tiến hành hình thức bồi dưỡng ngắn hạn 1-2 ngày về GDMT cho GV tại các trung tâm ở địa phương.
Ấn độ đã được UNESCO tài trợ dự án về GDMT trong phạm vi toàn quốc.Ở Việt Nam Vấn đề GDMT được bắt đầu nghiên cứu từ những năm cuối của thập niên 70 theo các hướng cơ bản: Một là, nghiên cứu các lĩnh vực khoa học cơ bản, khoa học sự sống góp phần tìm ra bản chất cấu trúc và quá trình sống để tìm cách tác động tích cực vào môi trường. Hai là, nghiên cứu khoa học giáo dục, các hình thức, biện pháp giáo dục nhằm tổ chức các hoạt động nội ngoại khóa, tuyên truyền, giới thiệu, nâng cao nhận thức cho học sinh, hình thành kĩ năng, thái độ, thói quen bảo vệ môi trường. Ba là, nghiên cứu cải tiến phương pháp, phương tiện và các biện pháp, hình thức tổ chức dạy học và kiểm tra đánh giá trong dạy học, tích hợp GDMT vào đổi mới, cải tiến phương pháp dạy học môn học. Các nghiên cứu về GDMT được thực hiện trong một số luận án tiến sĩ như: “Giáo dục bảo vệ môi trường qua giảng dạy Sinh thái học lớp 11 ở trường trung học phổ thông” của tác giả Dương Tiến Sỹ, “Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học” của tác giả Nguyễn Thị Vân Hương (2002), gần đây nhất là công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Kỳ Loan năm 2016 “Giáo dục môi trường trong dạy học Sinh 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com học 6 ở trường trung học cơ sở”.
Tuy nhiên, đến nay việc triển khai thực hiện vẫn còn những khó khăn, lúng túng từ phía giáo viên về phương pháp, phương tiện, cách thức thực hiện. Vì vậy tiếp tục cần có các nghiên cứu về cơ sở lí luận và thực tiễn về dạy học tích hợp góp phần đưa nội dung GDMT tích hợp vào các môn học trong dạy học một cách khoa học và có hiệu quả. Lược sử nghiên cứu tích hợp và dạy học tích hợp 1. Trên thế giới Dạy học tích hợp xuất phát từ mục tiêu đổi mới và cải cách dạy học khoa học ở các nước và phát triển mạnh mẽ từ thập niên 80 của thế kỷ XX.
Mục tiêu là làm thế nào để học sinh có thể vận dụng kiến thức, kỹ năng khoa học để giải quyết các vấn đề cuộc sống. Từ mục tiêu chung của dạy học môn khoa học, quá trình dạy học tích hợp các môn khoa học mang dấu hiệu chung là giúp cho học sinh có một cái nhìn tổng thể, thống nhất về khoa học, nội dung dạy học phải phù hợp với nhu cầu và sự phát triển của xã hội đương thời. Theo từ điển ERIC năm 1966, tích hợp là một “Tổ chức có hệ thống các nội dung và các phần khác nhau của chương trình dạy học thành một mô hình có ý nghĩa” (dẫn theo Nguyễn Kỳ Loan, 2016) [25, tr. Thế kỷ XX, ở Mỹ đã chứng kiến các cuộc thảo luận liên tiếp về tích hợp giáo dục khoa học (Hurd, 1986).
Blum (1973) tạo ra một mô hình tích hợp hai chiều, gồm phạm vi và cường độ tích hợp. Phạm vi liên quan đến các ngành học được tích hợp; cường độ có ba cấp độ: tích hợp toàn phần (hợp nhất), kết hợp và phối hợp. Ông sử dụng mô hình này để phân loại chương trình giảng dạy ở các nơi trên thế giới. Haggis và Adey (1979) mô tả chương trình giảng dạy khoa học tích hợp trên toàn thế giới, tích hợp khoa học trở nên phổ biến, Haggis và Adey khi tổng quan về tích hợp khoa học giáo dục trên toàn thế giới cho thấy tích hợp khoa học giáo dục là một lĩnh vực đang phát triển nhanh chóng mở rộng và rộng rãi ở cấp tiểu học, THCS trên thế giới (dẫn theo Nguyễn Kỳ Loan, 2016) [25, tr.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cho đến nay, khái niệm tích hợp được nghiên cứu và triển khai ở đa số các quốc gia trên thế giới. Tích hợp là một trong những quan điểm xây dựng chương trình, viết sách giáo khoa của nhiều quốc gia trên thế giới như Pháp, Nigeria, Úc… Ở Pháp, tích hợp đã trở thành quan điểm chỉ đạo xuyên suốt trong phát triển chương trình và tổ chức dạy học. Ở Úc, chương trình giáo dục tích hợp được áp dụng trong hệ thống giáo dục học từ cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI. Ở Nigeria, chương trình tích hợp khoa học giáo dục với tự nhiên đáp ứng mục tiêu thích ứng với xã hội, trách nhiệm xã hội, đạo đức trong khoa học và năng lực trong công việc (dẫn theo Nguyễn Kỳ Loan, 2016) [25, tr 18].
Chương trình môn học ở THCS các nước chủ yếu được thực hiện dưới môn Khoa học và môn Xã hội học. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, dạy học tích hợp được ứng dụng trong xây dựng chương trình ở tiểu học trong môn Khoa học, môn Tự nhiên- xã hội. Ở cấp THCS, chủ yếu tích hợp nội môn và lồng ghép các mặt giáo dục, nội dung có liên quan như GDMT, biến đổi khí hậu, tiết kiệm năng lượng, vào các môn học phù hợp có liên quan và các hoạt động giáo dục trong nhà trường. Theo Dương Tiến Sỹ (1999) [28] thì tích hợp được thực hiện trên cơ sở khai thác những giá trị, kiến thức GDMT tích hợp vốn tồn tại trong các mối quan hệ nội tại bên trong từng cấu trúc cấp độ tổ chức sống.
Những nghiên cứu về tích hợp trong dạy học còn khá ít ỏi, mới chỉ có một số luận án, luận văn thạc sĩ đề cập đến vấn đề này. Vì vậy, cần những nghiên cứu và vận dụng tích hợp trong dạy học. Tổng quan về dạy học tích hợp 1. Khái niệm về tích hợp Trong tiếng Anh, tích hợp được viết là “Integration” một từ gốc La tinh có nghĩa là “Whole” hay “Toàn bộ, toàn thể”.
Có nghĩa là sự phối hợp các 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau của một hệ thống để đảm bảo sự hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống ấy. Quan điểm tiếp cận tích hợp cho xem xét các sự vật, hiện tượng trong một cách nhìn tổng thể đang trở thành xu hướng tất yếu trong giáo dục ngày nay. Tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục nhằm nâng cao năng lực của người học, đào tạo con người có đầy đủ phẩm chất năng lực để giải quyết vấn đề trong cuộc sống hiện đại. Nhiều nước trên thế giới đã thực hiện tích hợp trong dạy học và quan điểm này mang lại hiệu quả cao.
Các môn, các ngành học ứng dụng tiếp cận tích hợp ở nhiều mặt khác nhau. Trong đó, tích hợp kiến thức và tích hợp dạy học là cơ bản nhất. Tích hợp kiến thức là sự liên kết, kết hợp, lồng ghép tri thức của các khoa học khác nhau thành một tập hợp kiến thức thống nhất. Tích hợp dạy học là quá trình dạy học trong đó có sự lồng ghép, những tri thức khoa học, những quy luật chung gần gũi với nhau, qua đó người học không chỉ lĩnh hội được tri thức khoa học của môn học chính mà cả tri thức của khoa học được tích hợp, từ đó hình thành cho người học cái nhìn khái quát hơn đối với các khoa học, đồng thời có được phương pháp xem xét vấn đề một cách lôgic, biện chứng.
Theo Từ điển Tiếng Việt tích hợp là “Sự hợp nhất, sự hòa nhập, sự kết hợp”[27]. Theo Từ điển Giáo dục học, tích hợp là “Hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch giảng dạy” [14, tr. Cũng theo các tác giả của từ điển này, thì có hai kiểu tích hợp là tích hợp dọc và tích hợp ngang với nhiều nội dung tích hợp khác nhau. Tích hợp dọc là “Tích hợp dựa trên cơ sở liên kết hai hoặc nhiều môn học thuộc cùng một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực gần nhau”.