Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 1.1 Tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận của đề tài luận án - Nhóm công trình nghiên cứu lý luận về hợp đồng: Đây là nhóm vấn đề có lượng tài liệu phong phú nhất. Các vấn đề lý luận hợp đồng cũng rất đa dạng, từ khái niệm, bản chất, nguyên tắc pháp luật hợp đồng, phân loại hợp đồng, hiệu lực hợp đồng, giải thích hợp đồng, giao kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng và sửa đổi, chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng. Có thể kể một số công trình sau: Các giáo trình của các cơ sở đào tạo luật như Giáo trình Luật Hợp đồng phần chung của PGS.TS Ngô Huy Cương [15], NXB Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2003, Giáo trình Luật dân sự tập 2 do PGS. TS Nguyễn Ngọc Điện chủ biên [22], NXB ĐH Quốc Gia TPHCM xuất bản năm 2016, Giáo trình Luật dân sự tập 2 của Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội do PGS.
TS Vũ Thị Hồng Vân chủ biên [61], NXB Chính trị quốc gia sự thật năm 2017. đều đề cập đến các vấn đề cơ bản của hợp đồng và luật hợp đồng như khái niệm, bản chất, phân loại, giao kết hợp đồng, hiệu lực hợp đồng. Giáo trình cung cấp về mặt lý luận cơ bản các vấn đề liên quan đến hợp đồng, là tiền đề quan trọng trong việc nghiên cứu các vấn đề tiếp theo của luận án. Ngoài giáo trình, bình luận bộ luật dân sự thì còn có rất nhiều các công trình nghiên cứu từ các sách chuyên khảo đến các bài viết tạp chí.
Có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau: Cuốn sách "Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam" của TS. Đỗ Văn Đại [16] do nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2013; "Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án" của TS. Đỗ Văn Đại [20] do nhà xuất bản Hồng Đức, tái bản lần thứ 6 năm 2017; Cuốn “Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự Việt Nam” (2007) của TS Nguyễn Ngọc Khánh [38], NXB Tư pháp phát hành luận giải khá sâu 8 sắc và đầy đủ từ lịch sử của chế định hợp đồng trên thế giới và ở Việt Nam, thuật ngữ, khái niệm hợp đồng đến chức năng, vị trí của hợp đồng, ý chí và tự do ý chí trong hợp đồng, các khiếm khuyết của sự thống nhất ý chí, hình thức hợp đồng, giao kết, thực hiện, sửa đổi, hủy bỏ hợp đồng, trách nhiệm hợp đồng. Tác giả sử dụng phương pháp so sánh luật học để luận giải các vấn đề và có minh họa bằng các ví dụ cụ thể nên cuốn sách rất có giá trị kế thừa và tiếp thu.
Nhóm công trình nghiên cứu lý luận về hợp đồng là nhóm công trình đa dạng, phong phú, đề cập ở các khía cạnh khác nhau liên quan đến hợp đồng. - Nhóm công trình nghiên cứu lý luận về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản Trong cuốn “Bình luận khoa học những điểm mới của BLDS năm 2015” do PGS. TS Đỗ Văn Đại chủ biên [18, tr.388-390], khi đề cập đến thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi nêu quá trình chỉnh lý dự thảo trình Quốc hội về điều luật này. Cuốn “Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự Việt Nam” của TS Nguyễn Ngọc Khánh [38, tr.490-538] đề cập trong Chương IV Trách nhiệm hợp đồng ở mục IV Các căn cứ miễn trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng.
Mục này nghiên cứu luật của một số quốc gia đại diện cho các hệ thống pháp luật như Pháp, Đức, Liên bang Nga, Anh, Mỹ và nghiên cứu Công ước Viên về mua bán hàng hóa quốc tế về các căn cứ miễn trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Tác giả đã đề cập đến nhiều thuật ngữ như “sự kiện bất khả kháng”, “khó khăn trở ngại”, “hợp đồng không thể thực hiện được về mặt kinh tế”, “không còn căn cứ giao dịch”, “khó khăn đặc biệt về kinh tế”, “sự biến động lớn về tình hình”, “sự vô ích của hợp đồng”, “trở ngại”. Tác giả đã luận giải và so sánh về các căn cứ miễn trách nhiệm giữa luật của các quốc gia. Đây là những tiền đề quan trọng để NCS tiếp tục nghiên cứu.
Luận án tiến sỹ luật học “Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam” bảo vệ thành công năm 2010 của tác giả Lê Minh Hùng [35] là một nghiên cứu có giá trị tham khảo. Chương 5 của Luận án đề cập đến hiệu lực hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi. Luận án phân tích khái niệm, nội dung cơ bản điều khoản sửa đổi hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi; điều khoản sửa đổi hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi trong pháp luật các nước và trong tập quán thương mại quốc tế. 9 Luận án cũng đề cập đến thực trạng pháp luật và thực tiễn pháp lý Việt Nam về điều khoản sửa đổi hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi.
Luận án đề xuất việc đưa quy định về hoàn cảnh thay đổi vào phần chung của pháp luật về hợp đồng. Trong quá trình xây dựng BLDS 2015 có một số các bài viết góp ý dự thảo BLDS về điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản và khi BLDS 2015 ra đời, cũng đã xuất hiện một số bài viết phân tích quy định pháp luật, so sánh với sự kiện bất khả kháng, diễn giải áp dụng điều luật. Cụ thể: Tác giả Lê Minh Hùng với bài viết “Điều khoản điều chỉnh hợp đồng do hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong pháp luật nước ngoài và kinh nghiệm cho Việt Nam” [34] nghiên cứu điều khoản hardship trong pháp luật các nước và tập quán thương mại quốc tế, một số nội dung cơ bản của điều khoản hardship như khái niệm, các điều kiện của hoàn cảnh được coi là hardship, hạn chế áp dụng, các hệ quả pháp lý của việc áp dụng điều khoản này. Đề tài khoa học “Nghiên cứu so sánh các quy định chung trong Luật Hợp đồng của một số nước trên thế giới” của TS Nguyễn Thị Ánh Vân chủ biên [60] làm rõ sự tương đồng và khác biệt điển hình giữa các quy định chung trong luật Hợp đồng của một số quốc gia trên thế giới, chủ yếu là Pháp, Đức, Anh, Mỹ trên các lĩnh vực: giao kết hợp đồng, nội dung hợp đồng, hợp đồng vô hiệu, thực hiện hợp đồng, chấm dứt hợp đồng.
Chuyên đề 16 của đề tài “Chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng” nghiên cứu về các trường hợp chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng theo pháp luật của Anh, Mỹ, Đức trong đó có đề cập đến chấm dứt hợp đồng do hợp đồng trở nên vô ích (frustration) trong đó có liệt kê các trường hợp nào là frustration (Anh, Mỹ) và chấm dứt hợp đồng do không thể thực hiện được (Đức). Cũng trên cơ sở nghiên cứu quy định pháp luật của một số quốc gia như BLDS Cộng hòa Liên bang Đức, BLDS Liên bang Nga, Bộ luật thương mại thống nhất Hoa Kỳ và một số tập quán thương mại quốc tế như Bộ nguyên tắc Unidriot về hợp đồng thương mại quốc tế, Bộ nguyên tắc luật hợp đồng chung châu Âu, bài viết “Các vấn đề pháp lý đặt ra trong việc thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi” của TS Vũ Thị Lan Anh [3] đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 5 (337) năm 2016 đã đưa ra khái niệm hoàn cảnh thay đổi cơ bản và so sánh hoàn cảnh thay đổi với sự kiện bất khả kháng. 10 Bài viết của TS Nguyễn Minh Hằng và Ths Trần Thị Giang Thu [26] đăng trên Tạp chí Kinh tế đối ngoại số 86 “Đề xuất diễn giải và áp dụng Điều 420 BLDS năm 2015 về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” nêu lên nguyên tắc áp dụng quy định thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản dựa trên lý thuyết về hardship. Hardship ra đời trên cơ sở hai nguyên tắc cơ bản của pháp luật hợp đồng là nguyên tắc tôn trọng cam kết thỏa thuận (pacta sunt survanda) và nguyên tắc thiện chí.2 Tình hình nghiên cứu những vấn đề về thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản Do điều khoản về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi mới được ghi nhận minh thị trong BLDS 2015 nên chưa có nhiều các công trình nghiên cứu trực tiếp đến những quy định của pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật.
Tuy nhiên, trước đó vẫn có những tác phẩm đề cập đến những quy định của pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Và sau khi BLDS 2015 được thông qua, đã xuất hiện các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học đề cập đến chủ đề này. Có thể kể một số tác phẩm sau: Sách chuyên khảo“Chế định hợp đồng trong BLDS Việt Nam” của Nguyễn Ngọc Khánh [38, tr.343-527] tại chương IV về Các căn cứ miễn trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, tác giả đã phân tích các hệ thống pháp luật về căn cứ miễn trách nhiệm của các hệ thống pháp luật và một số quốc gia đại diện cho các dòng pháp luật đó. Trong phần này, tác giả có đề cập đến các căn cứ miễn trách nhiệm và đưa ra một vài án lệ điển hình.
Mặc dù tác phẩm không chỉ ra hoàn cảnh thay đổi là một căn cứ miễn trách nhiệm nhưng bản chất của các thuật ngữ giống với thuật ngữ hoàn cảnh thay đổi. Đây cũng là những tham khảo cho khái niệm và diễn giải điều luật về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Sách chuyên khảo “Luật Hợp đồng Việt Nam Bản án và bình luận”, NXB Hồng Đức của PGS. TS Đỗ Văn Đại [20], tái bản lần thứ 6, có sửa chữa, bổ sung cung cấp một lượng kiến thức về hợp đồng: từ nguồn điều chỉnh đến giao kết, thực hiện, chấm dứt hợp đồng.
Với cách tiếp cận từ việc phân tích một số vấn đề pháp lý của bản án, tác giả bình luận dựa trên quan điểm của tác giả và so sánh với pháp 11 luật nước ngoài.