Phần mở đầu, Phần nội dung, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo. Phần nội dung đƣợc cấu trúc thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp tại tỉnh Hải Dƣơng. Chƣơng 3: Quan điểm, mục tiêu và giải pháp tăng cƣờng thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp tại tỉnh Hải Dƣơng.
9 e Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 1. Khái quát về thất nghiệp 1. Khái niệm và nguyên nhân thất nghiệp 1. Khái niệm thất nghiệp Quan điểm về thất nghiệp đã đƣợc nhiều tổ chức và nhiều nhà khoa học bàn luận song cũng còn nhiều ý kiến khác nhau.
Ngƣời đầu tiên nghiên cứu về thất nghiệp là Uyliam Petty cho rằng: Để giảm bớt tình trạng thất nghiệp thì phải đẩy mạnh xuất khẩu ra bên ngoài để thu hút lao động thừa trong xã hội. Tuy nhiên, Adam Smith mới là ngƣời nghiên cứu một cách có hệ thống về việc làm và thất nghiệp, ông khẳng định nạn nhân khẩu thừa (tức thất nghiệp) là không thể tránh khỏi trong nền KTTT. Nhà kinh tế học Keynes trong "Lý thuyết về việc làm, lãi suất và tiền tệ" thừa nhận vấn đề thất nghiệp không phải là những hiện tƣợng độc lập của đời sống kinh tế mà là kết quả của những tính quy luật nhất định trong việc đạt đƣợc cân bằng của hệ thống kinh tế. Theo quan điểm của P.Ăngghen, trong quá trình phát triển của xã hội loài ngƣời, lao động luôn đƣợc coi là nhu cầu cơ bản, chính đáng nhất và lớn nhất của con ngƣời.
Lao động là cách thức duy nhất để tạo ra thu nhập nhƣng trong điều kiện KTTT không phải ai cũng đƣợc đáp ứng và đƣợc đáp ứng một cách đầy đủ. NLĐ muốn đƣợc lao động phải có việc làm nhƣng không phải NLĐ nào cũng dễ tìm kiếm. Những ngƣời không có việc làm thực chất là họ đã bị thất nghiệp. Đến nay đã tồn tại nhiều quan điểm về thất nghiệp song định nghĩa thất nghiệp của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đƣợc nhiều nhà kinh tế, nhiều quốc gia đồng tình và vận dụng.
Theo ILO, thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số ngƣời trong độ tuổi lao động, muốn làm việc nhƣng không thể tìm đƣợc việc làm với mức lƣơng phổ biến trong thị trƣờng lao động. Còn ngƣời thất nghiệp là ngƣời trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhƣng không có việc làm, không làm kể cả một giờ 10 e trong tuần lễ điều tra, đang đi tìm việc làm, có điều kiện là họ làm ngay. Quan điểm này có ƣu điểm là nói rõ đƣợc bản chất của thất nghiệp là thị trƣờng lao động đã không tạo đƣợc việc làm đầy đủ cho những ngƣời có khả năng lao động và chấp nhận giá thị trƣờng của lao động. Có nghĩa là ngay cả trƣờng hợp thị trƣờng lao động cân bằng thì vẫn tồn tại thất nghiệp.
Tại Thái Lan, ngƣời thất nghiệp là NLĐ không có việc làm, muốn làm việc, có năng lực làm việc. Nhật Bản quan niệm, ngƣời thất nghiệp là ngƣời không có việc làm trong tuần lễ điều tra, có khả năng làm việc, đang tích cực tìm việc làm hoặc chờ kết quả xin việc làm. Luật BHTN của Cộng hòa liên bang Đức định nghĩa: Ngƣời thất nghiệp là NLĐ tạm thời không có quan hệ lao động (QHLĐ) hoặc chỉ thực hiện những công việc ngắn hạn. Ở Việt Nam, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì “thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm, đang không có việc làm”.
Quan điểm này bao hàm đƣợc nhiều dạng thất nghiệp nhƣng không đề cập đến thị trƣờng lao động và không đƣa ra căn cứ tính toán tỷ lệ thất nghiệp. Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, khái niệm về thất nghiệp và ngƣời thất nghiệp chƣa đƣợc quan tâm và thể chế hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật. Từ khi nƣớc ta chuyển đổi nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của nhà nƣớc, Đảng và Nhà nƣớc đã từng bƣớc xây dựng và hoàn thiện, thể chế hóa các quy định về lao động, việc làm, thất nghiệp, BHXH trong hệ thống các văn bản pháp luật. Các quy định của pháp luật lao động, việc làm và BHXH đã có quy định về việc làm, ngƣời có việc làm, ngƣời thiếu việc làm, về thất nghiệp và ngƣời thất nghiệp nhƣ sau: - Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều đƣợc thừa nhận là việc làm.
- Ngƣời không có việc làm là ngƣời hoàn toàn không làm công việc gì để hƣởng lƣơng, tiền công hay lợi nhuận vì nhiều lý do khác nhau nhƣ không tìm đƣợc việc làm, không muốn làm việc, không có nhu cầu làm việc mặc dù trong độ tuổi lao động. 11 e - Ngƣời lao động có việc làm là ngƣời trong độ tuổi lao động, đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân với thời gian làm việc không ít hơn mức chuẩn quy định cho NLĐ có việc làm trong tuần lễ điều tra. Tùy theo tình hình kinh tế - xã hội và đặc điểm của từng nhóm ngành nghề, nhà nƣớc quy định mức thời gian làm việc chuẩn để đƣợc coi là có việc làm. - Ngƣời lao động thiếu việc làm là ngƣời trong khoảng thời gian điều tra, có thời gian làm việc dƣới mức quy định chuẩn cho ngƣời có đủ việc làm và có nhu cầu làm việc thêm.
Mức thời gian chuẩn tùy thuộc vào ngành nghề và tính chất công việc do nhà nƣớc quy định cụ thể cho từng thời kỳ. - Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi có một số ngƣời trong lực lƣợng lao động, có khả năng lao động, muốn làm việc nhƣng không thể tìm đƣợc việc làm ở mức tiền lƣơng tối thiểu. Ngƣời thất nghiệp là những ngƣời từ 15 tuổi (trừ một số trƣờng hợp đặc biệt) đến đủ 62 tuổi đối với nam và đủ 60 tuổi đối với nữ làm việc ở điều kiện lao động bình thƣờng, làm việc theo hợp đồng lao động (HĐLĐ), có nhu cầu làm việc, vì những lý do khác nhau không có việc làm và đang đi tìm việc làm trong tuần lễ điều tra. Theo đó, ở Việt Nam ngƣời đƣợc coi là thất nghiệp bao gồm: - Ngƣời lao động đang làm việc bị mất việc vì các lý do khác nhau nhƣ doanh nghiệp phá sản; sáp nhập; giải thể; sắp xếp lại SXKD hoặc áp dụng công nghệ mới; NLĐ bị chấm dứt HĐLĐ trƣớc thời hạn, bị sa thải, HĐLĐ hết thời hạn mà doanh nghiệp thôi không tiếp tục ký hợp đồng.
- Ngƣời lao động mới đến tuổi lao động, học sinh, sinh viên mới tốt nghiệp hoặc thôi học nhƣng chƣa tìm đƣợc việc làm. - Ngƣời tham gia lực lƣợng vũ trang xuất ngũ, thanh niên xung phong đã hoàn thành nhiệm vụ, NLĐ đi xuất khẩu lao động về nƣớc muốn làm việc nhƣng chƣa có việc làm. - Những đối tƣợng sau thời gian quản giáo hoặc chữa trị bệnh đang có nhu cầu về việc làm. - Những ngƣời nghỉ việc tạm thời, không có thu nhập do tính thời vụ sản xuất.
Những ngƣời không bị coi là ngƣời thất nghiệp bao gồm: 12 e - Những ngƣời có việc làm nhƣng hiện tại không làm việc vì một lý do nào đó nhƣ: Nghỉ phép, nghỉ ốm, điều trị bệnh dài ngày, tai nạn … - Những ngƣời trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhƣng đang đi học hoặc đang thực hiện các nghĩa vụ đối với nhà nƣớc, làm nội trợ hoặc không có nhu cầu về việc làm. Nhƣ vậy, khái niệm ngƣời thất nghiệp không đồng nghĩa với ngƣời không có việc làm. Không phải tất cả những ngƣời không có việc làm đều là ngƣời thất nghiệp, chỉ những ngƣời không có việc làm, trong độ tuổi lao động, có nhu cầu tìm việc làm mới đƣợc coi là ngƣời thất nghiệp. NLĐ thiếu việc làm, ngƣời không có nhu cầu làm việc không đƣợc coi là ngƣời thất nghiệp.
Điều 3 của Luật BHXH năm 2006 của Việt Nam quy định ngƣời thất nghiệp là: “Người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm”. Theo quan điểm này, ngƣời thất nghiệp bao gồm những ngƣời đã đi làm trong đó bao gồm những ngƣời làm việc trong khu vực làm công ăn lƣơng theo HĐLĐ hoặc hợp đồng làm việc, tức là chỉ bao gồm một phần trong tổng số ngƣời thất nghiệp, chƣa đề cập đến lý do thất nghiệp là chủ quan hay khách quan. Do đó thƣờng dẫn đến những nhầm lẫn trong việc giải quyết BHTN. Hiện nay, Luật BHXH năm 2014 đã bỏ quy định giải thích về ngƣời thất nghiệp của Luật BHXH năm 2006.
Có thể thấy, dù có nhiều quan điểm và tiếp cận dƣới các góc độ khác nhau nhƣng các quan điểm đều thống nhất nhìn nhận, một NLĐ đƣợc coi là thất nghiệp phải có đầy đủ các đặc trƣng sau: (i) Là ngƣời lao động, có khả năng lao động; (ii) Đang không có việc làm và (iii) Có nhu cầu lao động, đang đi tìm việc làm. Kế thừa các quan điểm về thất nghiệp nêu trên, dƣới góc độ tiếp cận thực hiện chính sách về BHTN, có thể hiểu: “Thất nghiệp là tình trạng người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, đang tích cực tìm việc làm nhưng chưa tìm được việc làm theo nhu cầu, đã đăng ký tại các cơ sở quản lý lao động xã hội”. Nội hàm của khái niệm này cho thấy đầy đủ các đặc trƣng dấu hiệu nhận diện cơ bản của thất nghiệp (trong độ tuổi, có khả năng lao động, đang tìm việc làm) và nhấn mạnh khía cạnh tích cực tìm 13 e việc làm của ngƣời thất nghiệp thông qua việc đăng ký tại các cơ sở quản lý lao động. Khái niệm này cũng giúp phân biệt đƣợc ngƣời thất nghiệp thật sự với ngƣời không có việc làm nhƣng không muốn đi tìm việc làm và ngƣời làm việc theo mùa vụ, không hết thời gian ở nông thôn.
Nguyên nhân thất nghiệp Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp trong nền kinh tế. Có thể nêu ra một số nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng thất nghiệp sau: - Chu kỳ phát triển sản xuất, kinh doanh Trong nền KTTT, quá trình phát triển kinh tế thƣờng xuyên biến động lên, xuống theo chu kỳ với bốn giai đoạn: (i) Hƣng thịnh; (ii) Suy thoái; (iii) Khủng hoảng; (iv) Đình trệ hoặc trải qua hai giai đoạn thu hẹp và mở rộng. Sự phát triển SXKD phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế vì vậy nó cũng mang tính chu kỳ.