CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÙ LAO TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Thù lao lao động Theo Nguyễn Quốc Tuấn và các tác giả, “Một tổ chức tồn tại để đạt được mục tiêu và mục đích cụ thể. Các cá nhân làm việc cho tổ chức có những nhu cầu riêng. Một trong những nhu cầu đó là tiền, nó cho phép họ mua các loại hàng hóa và các dịch vụ khác nhau hiện hữu trên thị trường.
Vì vậy có cơ sở cho việc trao đổi: nhân viên phải thực hiện những hành vi lao động mà tổ chức mong đợi nhằm đạt được mục tiêu và mục đích của tổ chức để đổi lại việc tổ chức sẽ trả cho họ tiền bạc, hàng hóa và dịch vụ. “Tập hợp tất cả các khoản chi trả dưới các hình thức như tiền, hàng hóa dịch vụ mà người sử dụng lao động trả cho người lao động gọi là thù lao lao động” [12, 222]. Theo giáo trình Quản trị nhân lực thì “Thù lao lao động là tất cả các khoản thu nhập mà người lao động nhận được từ phía người sử dụng lao động thông qua việc bán sức lao động của mình” [11, 254]. Với luận văn này, tác giả tiếp cận khái niệm thù lao lao động: “Thù lao lao động thực chất là các khoản thu nhập mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động thông qua mối quan hệ thuê mướn giữa người lao động và tổ chức” [8].
Thù lao lao động bao gồm hai phần: Thù lao vật chất và thù lao phi vật chất. Thù lao vật chất là các lợi ích vật chất mà người lao động nhận được từ chủ sử dụng lao động. Thù lao vật chất bao gồm thù lao trực tiếp và gián tiếp. Thù lao vật chất trực tiếp gồm tiền lương, tiền hoa hồng và tiền thưởng, phúc 9 lợi về vật chất trực tiếp.
Thù lao vật chất gián tiếp bao gồm các chính sách mà công ty áp dụng như: bảo hiểm nhân thọ, y tế, các loại trợ cấp xã hội; các loại phúc lợi bao gồm các kế hoạch về hưu, an sinh xã hội, đền bù cho công nhân làm việc trong môi trường độc hại, làm thay ca, làm việc ngoài giờ, làm việc vào ngày nghỉ lễ.; Các trợ cấp về giáo dục, trả lương trong trường hợp vắng mặt vì nghỉ hè, nghỉ lễ, ốm đau, thai sản. Thù lao phi vật chất là các lợi ích phi vật chất mà người lao động nhận được từ chủ sử dụng lao động. Các doanh nghiệp không chỉ đơn thuần quan tâm đến lương, thưởng, các lợi ích vật chất mà còn phải quan tâm đến những đãi ngộ phi vật chất hay còn gọi là tinh thần. Thù lao phi vật chất bao gồm bản thân công việc, môi trường làm việc, thời giờ linh hoạt, cơ hội được phát triển, thăng tiến,… Công việc có hấp dẫn không, có thách đố đòi hỏi sức phấn đấu không, nhân viên có được giao trách nhiệm không, có cơ hội được cấp trên nhận biết được thành tích của mình hay không, họ có cảm giác vui khi hoàn thành công việc hay không và họ có cơ hội thăng tiến không.
Có nhiều cách tiếp cận hệ thống thù lao lao động trong doanh nghiệp như: thù lao tài chính, thù lao phi tài chính; Thù lao trực tiếp, thù lao gián tiếp; Thù lao cố định và thù lao biến đổi; Thù lao cơ bản, khuyến khích tài chính và phúc lợi;… 1. Thù lao tài chính Tiếp cận thù lao lao động theo thù lao tài chính và thù lao phi tài chính thì thù lao tài chính là các lợi ích người lao động nhận được bằng tiền, thù lao phi tài chính là các lợi ích người lao động nhận được không phải bằng tiền mà là các lợi ích phi tài chính. Thù lao phi tài chính rất đa dạng, có thể tiếp cận theo nội dung công việc hay môi trường làm việc như: Công việc (mức độ hấp dẫn của công việc, mức độ thách thức của công việc, yêu cầu về trách nhiệm khi thực hiện công việc, tính ổn định của công việc, cơ hội thăng tiến, 10 đề bạt hoặc phát triển…); môi trường làm việc (điều kiện làm việc thoải mái, chính sách hợp lý và công bằng của tổ chức, lịch làm việc linh hoạt, đồng nghiệp thân ái, giám sát viên ân cần chu đáo, biểu tượng địa vị phù hợp,…). Thù lao tài chính gồm (Lương cơ bản, tiền thưởng cố định hàng năm, hoa hồng, phân chia năng suất, phân chia lợi nhuận,.
Tiền lương Theo giáo trình Tiền lương - tiền công của trường Đại học Lao động - Xã hội thì tiền lương được hiểu “Tiền lương là giá cả sức lao động, được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa người lao động với người sử dụng lao động thông qua hợp đồng lao động (bằng văn bản hoặc bằng miệng), phù hợp với quan hệ cung - cầu sức lao động trên thị trường lao động và phù hợp với các quy định tiền lương của pháp luật lao động” [14, 9]. Tiền lương là công cụ thù lao tài chính quan trọng, thông qua đó, doanh nghiệp có thể tạo động lực lao động, kích thích người lao động nổ lực phấn đấu vì mục tiêu của doanh nghiệp. Ở một số doanh nghiệp, bên cạnh tiền lương, doanh nghiệp còn quy định các phụ cấp lương để bổ sung, hoàn chỉnh hơn về hệ thống thù lao tài chính, góp phần thực hiện tốt hơn mục tiêu quản trị tiền lương của doanh nghiệp. Phụ cấp lương là khoản tiền lương bổ sung khi hệ thống lương của doanh nghiệp chưa tính hết các yếu tố không ổn định, có tính đặc thù, các đãi ngộ khác mà doanh nghiệp cần tính cho người lao động.
Khuyến khích tài chính Khuyến khích là khích lệ tinh thần, là sự động viên để người được khích lệ, động viên tin tưởng mà cố gắng hơn. Theo cách tiếp cận này thì khuyến khích tài chính là những khoản tiền trả ngoài tiền công và tiền lương cho người lao động. Khuyến khích tài chính là khoản tiền doanh nghiệp trả cho các nỗ lực tăng thêm của người lao động sau khi người lao động đã đáp 11 ứng được yêu cầu chuẩn của doanh nghiệp [8]. Khuyến khích tài chính bao gồm: tiền thưởng, tiền hoa hồng, phân chia năng suất, phân chia lợi nhuận dựa trên cơ sở mức độ nỗ lực tăng thêm của người lao động.
Phúc lợi tài chính Phúc lợi là những khoản thù lao lao động do doanh nghiệp chi trả mà người lao động có thể nhận được một cách gián tiếp. Phúc lợi bao gồm những chi trả của doanh nghiệp cho các chương trình bảo hiểm (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp) và các khoản chi cho các chương trình khác liên quan đến sức khỏe, sự an toàn và các lợi ích của người lao động như lương hưu, tiền cho những ngày lễ, nghỉ mát, nhà ở, phương tiện đi lại, vị thế, cơ hội thăng tiến, lịch làm việc linh hoạt… Phúc lợi có thể tiếp cận gồm 2 loại là phúc lợi tài chính và phúc lợi phi tài chính. Trong đó, phúc lợi tài chính là những phúc lợi do doanh nghiệp hỗ trợ cho người lao động dưới dạng lợi ích tài chính. Nội dung của thù lao tài chính trong doanh nghiệp 1.
Tiền lương Tiền lương là công cụ quan trọng trong thù lao tài chính. Lương là số tiền mà doanh nghiệp trả cho người lao động tương ứng với số lượng và chất lượng lao động mà đã hao phí trong quá trình thực hiện những công việc được giao. Các doanh nghiệp xây dựng hệ thống tiền lương phải đảm bảo được đời sống của người lao động, cạnh tranh được với mức tiền lương cơ bản trên thị trường nhằm thu hút và giữ chân người lao động. Tiền lương giúp người lao động có điều kiện để thỏa mãn các nhu cầu sinh hoạt của bản thân và gia đình họ, vì vậy tiền lương là động lực lớn nhất trong việc thúc đẩy người lao động hoàn thành công việc được giao.
Cách tính lương cần thiết kế phù hợp gắn với vị trí công việc đảm nhận, kết quả làm việc và năng lực của người lao động. 12 Tùy theo từng đối tượng, nhóm đối tượng cụ thể, doanh nghiệp xác định phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền lương của doanh nghiệp với đối tượng đó. Tiền lương là một trong các công cụ tạo động lực lao động, nếu thiết kế hệ thống lương phù hợp thì tiền lương có tác dụng thúc đẩy tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả làm việc, đồng thời tiền lương mang tính cạnh tranh, tăng vị thế của doanh nghiệp và thu hút được lao động giỏi về cống hiến cho doanh nghiệp. Ngược lại, nếu hệ thống tiền lương không phù hợp sẽ không tạo được động lực cho người lao động, không khai thác được tiềm năng và không giữ chân được người lao động.
Để tiền lương có thể trở thành động lực đối với người lao động, doanh nghiệp cần tìm cách gắn tiền lương với thành tích và kết quả làm việc của người lao động. Đối với lao động quản lý, lãnh đạo công ty, các doanh nghiệp thường trả lương theo vị trí công việc, thành tích hàng tháng và trả theo hình thức trả lương theo thời gian. Đối với công nhân sản xuất trong các doanh nghiệp, với mục tiêu kích thích công nhân tăng năng suất lao động, các doanh nghiệp thường trả lương cho công nhân theo hình thức trả lương sản phẩm. Trả lương sản phẩm là trả lương căn cứ vào số lượng sản phẩm, chất lượng sản phẩm mà người lao động tạo ra và đơn giá tiền lương theo từng loại sản phẩm.
Hình thức này có ưu điểm là khuyến khích người lao động quan tâm đến số lượng và chất lượng sản phẩm, tiết kiệm thời gian cho từng công việc. Ngoài ra, trả lương theo sản phẩm còn tạo ra sự công bằng trong đánh giá thành tích của người lao động, đồng thời khuyến khích mọi người học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, tích cực sáng tạo để tạo ra nhiều sản phẩm với mong muốn nhận được tiền lương xứng đáng. Doanh nghiệp cũng có thể trả lương theo sản phẩm có thể kết hợp thưởng, trả lương sản phẩm lũy tiến,… để khuyến khích công nhân cố gắng 13 cao hơn để có các thành tích cao về năng suất. Nếu thiết kế lương ở một số doanh nghiệp không tính được hết các yếu tố đãi ngộ cho người lao động thì doanh nghiệp có thể xây dựng thêm các loại phụ cấp lương để bù đắp các yếu tố về điều kiện lao động, mức độ phức tạp của công việc, điều kiện sinh hoạt… Các loại phụ cấp có thể gồm: Phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp thâm niên, phụ cấp độc hại,… Tiền lương làm thêm giờ, làm đêm, tiền lương cho các ngày lễ, tết cũng là một bộ phận trong tiền lương của các doanh nghiệp.