Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Lao động Theo C.Mác “Lao động trước hết là quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên”.Ăng Ghen viết: “Khẳng định rằng lao động là nguồn gốc của của cải. Lao động đúng là như vậy, khi đi đôi với giới tự nhiên là cung cấp những vật liệu cho lao động đem biến thành của cải.
Nhưng lao động còn là một cái gì vô cùng lớn lao hơn thế nữa, lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người và như thế một mức và trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: Lao động đã sáng tạo ra bản chất loài người”. Trong giáo trình Phân tích lao động xã hội của khoa Kinh tế Lao động, trường Đại học Kinh tế Quốc dân viết “Lao động là hoạt động có mục đích của con người, thông qua hoạt động đó, con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích phục vụ nhu cầu của con người”. Khái niệm này nhấn mạnh nhiều vào hoạt động sản xuất vật chất tạo của cải vật chất cho sự phát triển của xã hội. Thực tế, hoạt động lao động của con người được thực hiện trên nhiều lĩnh vực hết sức phong phú và đa dạng như nghiên cứu khoa học, hoạt động văn hóa nghệ thuật.vì vậy, khái niệm này chưa thể hiện rõ được hết các hoạt động lao động của con người.
Trong giáo trình Kinh tế học chính trị Mác -Lenin viết: “Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ cho các nhu cầu của đời sống con người”(Tổng cục thống kê, 2015,2016,2017). Trong bộ Luật lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam viết: “Lao động là hoạt động quan trong nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội” (Bộ luật lao động và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Lao động). 6 Như vậy có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về lao động. Tuy nhiên suy cho cùng thì lao động được hiểu là sự tác động của con người vào yếu tố tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất phục vụ cho xã hội.
Trong quá trình lao động, con người ngày càng nâng cao trình độ hiểu biết về giới tự nhiên và xã hội, là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội 1. Khái niệm cơ bản về nông thôn và lao động nông thôn a. Khái niệm khu vực nông thôn Theo từ điển bách khoa toàn thư thế giới thì “Nông thôn là khu vực mà ở đó tập trung dân cư sống chủ yếu bằng sản xuất nông nghiệp”. Tại Việt Nam, trong quy định về hành chính và thống kê, khu vực nông thôn là những địa bàn thuộc xã (những địa bàn thuộc phường hoặc thị trấn được quy định là thành thị).
Nông thôn ở nước ta được hiểu là nơi sinh sống và làm việc của một cộng đồng bao gồm chủ yếu là nông dân, là vùng sản xuất nông nghiệp là chính. Nông thôn có cơ sở hạ tầng, trình độ tiếp cận thị trường, trình độ sản xuất hàng hóa thấp hơn so với khu vực thành thị. Theo Thông tư số 54 ngày 21/08/2009 của Bộ nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, khái niệm nông thôn là: “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi các cấp hành chính cơ sở là UBND xã”. Khái niệm lao động nông thôn Nguồn lao động nông thôn là một bộ phận dân số sinh sống và làm việc ở nông thôn trong độ tuổi lao động theo qui định của pháp luật (nam từ 16 đến 60 tuổi, nữ từ 16 đến 55 tuổi) có khả năng lao động.
Lực lượng lao động ở nông thôn là bộ phận của nguồn lao động ở nông thôn bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, đang có việc làm và những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm. Tuy nhiên do đặc điểm, tính chất, mùa vụ của công việc ở nông thôn mà lực lượng tham gia sản xuất nông nghiệp không chỉ có những người trong độ tuổi lao động mà còn có những người trên hoặc dưới độ tuổi lao động tham gia sản xuất với 7 những công việc phù hợp với mình.Từ khái niệm nguồn lao động ở nông thôn mà ta thấy lao động ở nông thôn rất dồi dào, nhưng đây cũng chính là thách thức trong việc tạo việc làm ở nông thôn. Đặc điểm của lao động nông thôn Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp có đặc điểm khác với đặc điểm của các ngành khác. Vì vậy, lao động nông thôn cũng có những đặc điểm khác với lao động ở các ngành kinh tế khác, cụ thể nó biểu hiện ở các mặt sau: - Lao động nông thôn mang tính thời vụ.
Đây là đặc điểm dặc thù không thể xoá bỏ được của lao động nông thôn. Nguyên nhân của nét đặc thù trên là do: đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng vật nuôi chúng là những cơ thể sống trong đó quá trình tái sản xuất tự nhiên và tái sản xuất kinh tế đan xen nhau. Cùng một loại cây trồng vật nuôi ở những vùng khác nhau có điều kiện tự nhiên khác nhau chúng cũng có quá trình sinh trưởng và phát triển khác nhau. Tính thời vụ trong nông nghiệp là vĩnh cửu không thể xáo bỏ được trong quá trình sản xuất chúng ta chỉ có thể tìm cách làm giảm tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp.
Từ đó đặt ra vấ đề cho việc sử dụng các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, đặc biệt là vấn đề sử dụng lao động nông thôn một cách hợp lý có ý nghĩa rất quan trọng. - Nguồn lao động nông thôn tăng về số lượng. Dân số được coi là yếu tố cơ bản quyết định số lượng lao động: qui mô và cơ cấu của dân số có ý nghĩa quyết định đến qui mô cơ cấu của nguồn lao động. Dân số trung bình năm 2017 của cả nước ước tính 93,7 triệu người, tăng 987,3 nghìn người, tương đương tăng 1,07% so với năm 2016, bao gồm dân số thành thị 32,9 triệu người, chiếm 35,1%; dân số nông thôn 60,8 triệu người, chiếm 64,9%; dân số nam 46,2 triệu người, chiếm 49,3%; dân số nữ 47,5 triệu người, chiếm 50,7%.
Do sự phát triển của quá trình đô thị hoá và sự thu hẹp dần về tốc độ tăng tự nhiên của dân số giữa nông thôn và thành thị nên tỷ lệ dân số cũng như lực lượng lao động so với cả nước ngày càng giảm. Mặc dù vậy, qui mô dân số và nguồn lao động ở nông thôn vẫn tiếp tục gia tăng. 8 - Chất lượng nguồn lao động nông thôn chưa cao. Chất lượng của người lao động được đánh gía qua trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật và sức khoẻ.
Trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật: nguồn lao động của nước ta đông về số lượng nhưng sự phát triển của nguồn nhân lực nước ta còn nhiều hạn chế, nhiều mặt chưa đáp ứng được yêu cầu khắt khe trong bối cảnh đất nước đang hội nhập kinh tế quốc tế đặc biệt chúng ta đang chuẩn bị gia nhập tổ chức WTO trong thời gian tới trong đó nông nghiệp được xem là một trong những thế mạnh. Riêng lao động nông thôn chiếm hơn 3/4 lao động của cả nước. Tuy vậy nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn chưa phát huy hết tiềm năng do trình độ chuyên môn của lao động thấp kỹ thuật lạc hậu. Do đó, để có một nguồn lao động với trình độ chuyên môn kỹ thuật cao thì nhà nước cần phải có chính sách đào tạo bồi dưỡng để có nguồn nhân lực đủ trình độ để phát triển đất nước.
Sức khoẻ của người lao động nó liên quan đến lượng calo tối thiểu cung cấp cho cơ thể mỗi ngày, môi trướng sống, môi trường làm việc,vv. Nhìn chung lao động nước ta do thu nhập thấp nên dẫn đến các nhu cầu thiết yếu hàng ngày chưa đáp ứng được một cách đầy đủ. Vì vậy, sức khỏe của nguồn lao động cả nước nói chung và của nông thôn nói riêng là chưa tốt. - Việc làm của lao động nông thôn Lao động nông thôn khó tiếp cận với việc làm có thu nhập và chất lượng cao.
Đặc điểm cơ bản của lao động nông thôn là phần lớn chưa qua đào tạo dẫn đến khó khăn trong việc tiếp cận với thu nhập cao và ổn định. Mặt khác khả năng cập nhật thông tin khoa học kỹ thuật, thị trường việc làm của lao động nông thôn là không kịp thời làm giảm khả năng tự tạo việc làm. Do vậy các chính sách của Nhà nước nhằm hỗ trợ lao động nông thôn tự tạo việc làm cũng như tạo việc làm mới cho lao động nông thôn đang là vấn đề cấp bách và thiết thực. Khái niệm việc làm Khái niệm việc làm đã được đề cập dưới nhiều khía cạnh khác nhau.
Cùng với sự phát triển của xã hội, quan niệm về việc làm cũng được nhìn nhận một cách khoa học, đầy đủ và đúng đắn hơn. 9 Theo tổ chức lao động quốc tế ILO (International Labor Organization), việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền hoặc hiện vật. Theo giáo trình kinh tế chính trị thì “Việc làm là cơ sở vật chất để huy động nguồn nhân lực vào hoạt động sản xuất trong nền kinh tế quốc dân” và “Việc làm là trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, tức là những điều kiện cần thiết để sử dụng sức lao động đó” (Bộ giáo dục và Đào tạo, 2006). Theo Bộ Luật lao động 2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật lao động năm 2006 thì: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm.
Tạo việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội” (Bộ luật lao động và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Lao động). Như vậy, việc làm được hiểu đầy đủ như sau: “Việc làm là hoạt động lao động của con người nhằm mục đích tạo ra thu nhập đối với cá nhân, gia đình hoặc cho toàn xã hội, các hoạt động này không bị pháp luật cấm”.