CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG CHO CÔNG NHÂN SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP 1. Động lực Theo giáo trình Quản trị nhân lực – Trường Đại học kinh tế quốc dân của PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân và Th.S Nguyễn Vân Điềm thì “Động lực được hiểu là sự khát khao, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu, kết quả nào đó. Theo cách hiểu này, động lực lao động có được không xuất phát từ bất kỳ một sự cưỡng chế nào, nó không phát sinh từ các mệnh lệnh hành chính, nó không biểu hiện qua lời nói mà qua các hành động cụ thể, nó xuất phát từ nội tâm của người lao động. Theo giáo trình Hành vi tổ chức – Trường Đại học kinh tế quốc dân do PGS.TS Bùi Anh Tuấn (chủ biên) thì “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu suất cao” [21, tr.
Như vậy, bản chất của động lực lao động là những gì kích thích con người hành động để đạt được mục tiêu nào đó. Mục tiêu của con người đặt ra một cách có ý thức được phản ảnh bởi động cơ của người lao động và quyết định hành động của họ. Như vậy động cơ lao động là nguyên nhân, lý do để cá nhân người lao động tham gia vào quá trình lao động, còn động lực lao động là biểu hiện của sự thích thú, hưng phấn thôi thúc họ tham gia làm việc. Động cơ vừa có thể tạo ra động lực mạnh mẽ cho người lao động nhưng nó cũng đồng thời có thể thui chột đi mong muốn được làm việc, được cống hiến của họ.
Người quản lý phải hiểu và phân tích động cơ, động lực của người lao 10 động để đưa ra các chính sách nhân sự hợp lý để người lao động hoàn thành công việc đồng thời giúp cho tổ chức đạt được mục tiêu đặt ra. Nhu cầu Cũng theo giáo trình Hành vi tổ chức – Trường Đại học kinh tế quốc dân do PGS.TS Bùi Anh Tuấn (chủ biên) thì “Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và pháttriển” [21, tr. Nhu cầu gắn liền với với sự tồn tại và phát triển của con người cũng như cộng đồng và tập thể xã hội. Hệ thống nhu cầu của con người rất phức tạp, song cơ bản nhu cầu được chia thành 3 nhóm chính là: nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần và nhu cầu xã hội.
Nhu cầu của con người luôn luôn biến đổi. Với mỗi người cụ thể khác nhau trong xã hội, việc thực hiện các nhu cầu cũng rất khác nhau tùy theo từng quan điểm của từng cá nhân. Nhu cầu chưa được thỏa mãn tạo ra tâm lý căng thẳng, khiến con người phải tìm cách để đáp ứng. Người lao động cũng như vậy, họ bị thúc đẩy bởi trạng thái mong muốn.
Để có thể thỏa mãn được những mong muốn này, mong muốn càng lớn thì nỗ lực càng cao và ngược lại. Lợi ích Theo PGS.TS Lê Thanh Hà viết trong Giáo trình Quản trị nhân lực tập II có trình bày “Lợi ích là mức độ đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần do công việc đó tạo ra” [12, tr. Theo quan niệm trên thì lợi ích được hiểu là thành quả mà người lao động nhận được bằng vật chất hay tinh thần thông qua bản thân khi họ tham gia sản xuất hoặc các hoạt động khác trong tổ chức cũng như trong xã hội. Lợi ích có vai trò to lớn trong hoạt động quản lý, trong hoạt động lao động của con người, tạo ra động lực mạnh mẽ cho các hoạt động của con người, buộc con người phải động não, cân nhắc, tìm tòi nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình.
Các nhà quản trị doanh nghiệp khi tìm hiểu 11 được tâm lý lợi ích của người lao động sẽ có những biện pháp phù hợp để khuyến khích người lao động hăng say làm viêc đạt hiệu quả công việc tốt nhất. Động lực lao động Có nhiều khái niệm về động lực lao động, mỗi khái niệm có một quan điềm khác nhau nhưng đều làm rõ được bản chất của động lực lao động. Theo tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân: “Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức”. Bùi Anh Tuấn: “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất và hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”.9] Động lực lao động xuất phát từ trong nội tại suy nghĩ của người lao động. Động lực lao động được thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi người lao động đang đảm nhiệm và trong thái độ của họ đối với tổ chức. Mỗi người lao động đảm nhiệm một công việc khác nhau có thể có động lực lao động khác nhau để làm việc tích cực hơn. Có thể rút ra một cách hiểu chung nhất về động lực lao động: Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động. Tạo động lực lao động Vấn đề tạo động lực lao động cho nhân lực nói chung và cho người lao động trong tổ chức nói riêng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Theo PGS, TS Lê Thanh Hà: “Tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách hành xử của tổ chức, nhà quản lý để tạo ra sự khát khao, tự 12 nguyện của người lao động buộc họ phải nỗ lực, cố gắng phấn đấu nhằm đạt được các mục tiêu mà tổ chức đề ra. Các biện pháp được đặt ra có thể là các đòn bẩy kích thích về tài chính, phi tài chính, cách hành xử của tổ chức được thể hiện ở điểm tổ chức đó đối xử lại với người lao động như thế nào”.
Bùi Anh Tuấn: “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong làm việc”. Từ các khái niệm trên có thể hiểu rằng tạo động lực lao động chính là việc các nhà quản trị vận dụng một hệ thống các chính sách, biện pháp cách thức quản lý tác động tới người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn được đóng góp cho tổ chức, doanh nghiệp. Do đặc thù tính chất công việc của lao động gián tiếp và công nhân sản xuất khác nhau, cũng như trình độ học vấn, nhu cầu và mức độ hài lòng về công việc của hai khối lao động này là khác nhau. Do đó, tạo động lực cho lao động gián tiếp và công nhân sản xuất cũng khác nhau.
Với lao động gián tiếp thì nhu cầu về xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu được thể hiện của họ được đặt lên trên nhu cầu về sinh lý, cho nên tao động lực lao động cho khối lao động gián tiếp thì doanh nghiệp cần chú trọng vào các biện pháp tạo động lực bằng các khuyến khích tinh thần như đào tạo và phát triển, cơ hội thăng tiến và phát triển nghề nghiệp, đánh giá thực hiện công việc… để nâng cao mức độ hài lòng cho khối lao động gián tiếp. Và ngược lại với công nhân sản xuất (lao động trực tiếp), do trình độ học vấn và nhận thức của họ không cao bằng khối lao động gián tiếp, nên nhu cầu của họ vẫn tập trung vào nhu cầu sinh lý và nhu cầu an toàn thay vì các nhu cầu xã hội và nhu cầu được thể hiện. Chính vì thế, đối với khối công nhân sản xuất thì doanh nghiệp sẽ tập trung vào các biện pháp tạo động lực bằng các khuyến khích vật chất như tiền lương, thưởng và chế độ phúc lợi; hoặc tạo động lực bằng cách nâng cao điều 13 kiện làm việc thì sẽ đem lại hiệu quả cao trong công tác tạo động lưc lao động cho doanh nghiệp hơn. Công nhân sản xuất Dựa trên quan điểm nghiên cứu của tác giả, công nhân sản xuất gồm những người trực tiếp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm hay trực tiếp thực hiện các công việc dịch vụ nhất định.
Đặc điểm của công nhân sản xuất: - Mang tính chất sản xuất trực tiếp ra sản phẩm - Chỉ đóng vai trò là người tác động vào máy móc tạo ra sản phẩm, không trực tiếp tiếp xúc với khách hàng sử dụng sản phẩm - Có tính đa dạng chuyên môn hóa cao - Đa số công nhân sản xuất không nhất thiết phải có trình độ học vấn cũng như kỹ năng cao, có thể chỉ cần tốt nghiệp phổ thông là được - Công nhân sản xuất đóng vai trò là người phụ giúp cho máy móc hoạt động, mang tính chất bị động, bị tác động trực tiếp từ máy móc mà không có khả năng tác động ngược trở lại - Hoạt động sản xuất của công nhân sản xuất không mang tính mùa vụ, các sản phẩm họ làm ra là theo yêu cầu của các nhà quản trị - Công nhân sản xuất không cần trải qua quá trình đào tạo bài bản mà ngược lại khi họ được nhận vào làm có thể ngay lập tức sử dụng được các thiết bị. Theo nội dung công việc của công nhân sản xuất, loại công nhân sản xuất được chia thành: - Công nhân sản xuất kinh doanh chính - Công nhân sản xuất kinh doanh phụ trợ - Công nhân của các hoạt động khác. Theo năng lực và trình độ chuyên môn, công nhân sản xuất được phân thành các loại: - Công nhân tay nghề cao: Gồm những người đã qua đào tạo chuyên 14 môn và có nhiều kinh nghiệm trong công việc thực tế, có khả năng đảm nhận các công việc phức tạp đòi hỏi trình độ cao. - Công nhân có tay nghề trung bình: Gồm những người đã qua đào tạo chuyên môn, nhưng thời gian công tác thực tế chưa nhiều hoặc những người chưa được đào tạo qua trường lớp chuyên môn nhưng có thời gian làm việc thực tế tương đối lâu được trưởng thành do học hỏi từ thực tế.