Luận văn: Tăng cường quản lý các khoản thu từ đất tại Chi cục Thuế huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ

Nghiên cứu luận văn thạc sĩ về tăng cường quản lý các khoản thu từ đất tại Chi cục Thuế huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. Phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

131
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý thu từ đất tại Chi cục thuế Thanh Ba

Quản lý thu từ đất là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Chi cục Thuế huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. Các khoản thu từ đất bao gồm tiền sử dụng đất, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, tiền thuê đất và các phí liên quan. Đây là nguồn thu quan trọng đóng góp vào ngân sách địa phương. Chi cục Thuế huyện Thanh Ba chịu trách nhiệm thực hiện quản lý thu thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác trên địa bàn huyện. Cơ quan này trực thuộc Cục Thuế tỉnh Phú Thọ, hoạt động theo quy định của Luật Quản lý thuế và các văn bản pháp luật liên quan. Trong bối cảnh kinh tế xã hội huyện Thanh Ba có những chuyển biến tích cực, việc tăng cường quản lý thu từ đất trở thành yêu cầu cấp thiết. Điều này giúp đảm bảo nguồn thu ngân sách ổn định, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương. Công tác quản lý thu từ đất đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều cơ quan chức năng.

1.1. Vị trí và chức năng của Chi cục Thuế huyện Thanh Ba

Chi cục Thuế huyện Thanh Ba là cơ quan trực thuộc Cục Thuế tỉnh Phú Thọ, có chức năng quản lý thu thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện. Cơ quan này thực hiện nhiệm vụ theo quy định tại Quyết định số 503/QĐ-TCT của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế. Chi cục có tổng số 38 cán bộ công chức, gồm 3 cán bộ quản lý và 31 cán bộ chuyên môn. Nhân sự làm việc tại 7 đội chức năng, bao gồm 4 đội tại văn phòng Chi cục và 3 đội thuế liên xã, thị trấn. Cơ cấu tổ chức được sắp xếp nhằm đảm bảo hiệu quả trong công tác quản lý thu ngân sách trên địa bàn.

1.2. Các khoản thu chủ yếu từ đất đai trên địa bàn

Các khoản thu từ đất đai tại huyện Thanh Ba主要包括 tiền sử dụng đất, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và tiền thuê đất. Tiền sử dụng đất phát sinh khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng hoặc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất. Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp áp dụng đối với tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng đất phi nông nghiệp. Tiền thuê đất áp dụng cho các trường hợp Nhà nước cho thuê đất. Ngoài ra còn có các khoản phí, lệ phí liên quan đến đất đai như phí đăng ký đất đai, lệ phí trước bạ. Mỗi loại khoản thu có đặc điểm và phương thức quản lý riêng, đòi hỏi cán bộ thuế phải nắm vững quy định pháp luật để thực hiện hiệu quả.

II. Phân tích thực trạng quản lý thu từ đất tại Thanh Ba

Thực trạng quản lý thu từ đất tại Chi cục Thuế huyện Thanh Ba trong giai đoạn 2012-2014 cho thấy nhiều kết quả đáng ghi nhận nhưng cũng tồn tại không ít hạn chế. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện có sự sụt giảm do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế và lạm phát tăng cao. Tình hình thu ngân sách từ đất đai chịu tác động trực tiếp từ diễn biến thị trường bất động sản. Một số tồn tại nổi bật bao gồm: công tác phối hợp giữa Chi cục Thuế với các cơ quan liên quan chưa đồng bộ; năng lực cán bộ quản lý đất đai tại cơ sở còn hạn chế; hệ thống thông tin dữ liệu về đất đai chưa đầy đủ, chính xác. Nhận thức của người dân về nghĩa vụ thuế đối với đất đai còn nhiều bất cập. Tình trạng nợ đọng thuế sử dụng đất vẫn xảy ra ở nhiều xã, thị trấn trên địa bàn huyện. Các yếu tố kinh tế, xã hội, trình độ dân trí và tập quán địa phương cũng ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả quản lý thu từ đất.

2.1. Những kết quả đạt được trong công tác quản lý thu

Chi cục Thuế huyện Thanh Ba đã đạt được một số kết quả tích cực trong công tác quản lý thu từ đất. Tổng thu ngân sách từ đất đai có xu hướng tăng trưởng qua các năm. Công tác tuyên truyền chính sách thuế được đẩy mạnh, giúp người dân nâng cao nhận thức về nghĩa vụ nộp thuế. Đội ngũ cán bộ thuế không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Việc áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý thuế bước đầu mang lại hiệu quả. Công tác phối hợp với cơ quan tài nguyên môi trường, UBND các xã được cải thiện. Các thủ tục hành chính thuế liên quan đến đất đai được đơn giản hóa, tạo thuận lợi cho người nộp thuế.

2.2. Những tồn tại hạn chế cần khắc phục

Bên cạnh kết quả đạt được, công tác quản lý thu từ đất tại Thanh Ba còn nhiều tồn tại. Thứ nhất, công tác phối hợp giữa Chi cục Thuế với Phòng Tài nguyên Môi trường và UBND các xã chưa thường xuyên, thiếu đồng bộ. Thứ hai, dữ liệu về hiện trạng sử dụng đất chưa được cập nhật đầy đủ, dẫn đến bỏ sót đối tượng nộp thuế. Thứ ba, tình trạng nợ đọng thuế sử dụng đất diễn biến phức tạp, đặc biệt tại các xã vùng sâu vùng xa. Thứ tư, năng lực một số cán bộ thuế cấp xã còn hạn chế trong việc áp dụng quy định pháp luật. Thứ năm, nhận thức của bộ phận người dân về nghĩa vụ thuế đất đai chưa đầy đủ.

III. Giải pháp tăng cường quản lý thu từ đất tại Thanh Ba

Để tăng cường quản lý các khoản thu từ đất tại Chi cục Thuế huyện Thanh Ba, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, cần hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Chi cục Thuế với các cơ quan liên quan như Phòng Tài nguyên Môi trường, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất và UBND các xã, thị trấn. Thứ hai, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai tập trung, liên thông giữa các ngành. Thứ ba, tăng cường công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ. Thứ tư, nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ thuế thông qua đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ. Thứ năm, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và cưỡng chế nợ thuế. Cuối cùng, cần nghiên cứu đề xuất cơ chế chính sách phù hợp với đặc thù địa phương để tối ưu hóa nguồn thu từ đất đai.

3.1. Hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành trong quản lý thu

Giải pháp then chốt đầu tiên là hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành. Chi cục Thuế cần xây dựng quy chế phối hợp cụ thể với Phòng Tài nguyên Môi trường huyện trong việc cung cấp thông tin về biến động đất đai. Việc chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan phải được thực hiện thường xuyên, có định kỳ. UBND các xã, thị trấn đóng vai trò quan trọng trong việc xác minh hiện trạng sử dụng đất, hỗ trợ thu thuế tại cơ sở. Cần thành lập Ban chỉ đạo thu ngân sách từ đất cấp huyện để điều phối hoạt động. Mỗi cơ quan cần xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn trong quy trình quản lý thu. Cơ chế phối hợp hiệu quả sẽ giảm thiểu tình trạng bỏ sót đối tượng nộp thuế và tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước.

3.2. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và nâng cao năng lực cán bộ

Ứng dụng công nghệ thông tin là giải pháp quan trọng nhằm hiện đại hóa công tác quản lý thu từ đất. Chi cục Thuế cần đẩy mạnh sử dụng phần mềm quản lý thuế tích hợp với cơ sở dữ liệu đất đai. Việc xây dựng hệ thống thông tin liên thông giữa thuế, tài nguyên môi trường và tài chính giúp tra cứu, đối chiếu thông tin nhanh chóng, chính xác. Đồng thời, công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ thuế phải được thực hiện thường xuyên. Cán bộ cần nắm vững pháp luật đất đai, thuế và kỹ năng xử lý tình huống. Việc ứng dụng chữ ký số, hóa đơn điện tử cũng cần được đẩy mạnh để giảm thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho người nộp thuế.

IV. Kết luận và định hướng ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu về tăng cường quản lý các khoản thu từ đất tại Chi cục Thuế huyện Thanh Ba cho thấy đây là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế địa phương. Quản lý thu từ đất không chỉ đảm bảo nguồn thu ngân sách mà còn góp phần quản lý tài nguyên đất đai hiệu quả. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, để đạt được mục tiêu đề ra, cần triển khai đồng bộ các giải pháp từ hoàn thiện cơ chế phối hợp, ứng dụng công nghệ thông tin đến nâng cao năng lực cán bộ. Các đề xuất, kiến nghị từ nghiên cứu có tính khả thi cao và phù hợp với điều kiện thực tế của huyện Thanh Ba. Kinh nghiệm từ các địa phương khác cũng là nguồn tham khảo quý báu. Việc áp dụng các giải pháp này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thu ngân sách từ đất đai, thúc đẩy sự phát triển bền vững của huyện Thanh Ba trong thời gian tới.

4.1. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu mang ý nghĩa cả về mặt khoa học lẫn thực tiễn. Về mặt khoa học, luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý các khoản thu từ đất, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý. Nghiên cứu bổ sung kiến thức chuyên ngành quản lý kinh tế trong lĩnh vực thuế đất đai. Về mặt thực tiễn, các giải pháp đề xuất có tính ứng dụng cao, phù hợp với đặc thù của huyện Thanh Ba. Kết quả nghiên cứu là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan thuế cấp huyện trong công tác quản lý thu từ đất. Đồng thời, nghiên cứu cũng giúp các nhà hoạch định chính sách đánh giá hiệu quả các quy định hiện hành.

4.2. Định hướng phát triển và kiến nghị cho thời gian tới

Để công tác quản lý thu từ đất tại Chi cục Thuế huyện Thanh Ba đạt hiệu quả bền vững, cần thực hiện các kiến nghị sau. Đối với Tổng cục Thuế và Cục Thuế tỉnh Phú Thọ, cần hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về quản lý thu từ đất, tạo cơ chế thông thoáng cho địa phương. Đối với UBND huyện Thanh Ba, cần tăng cường đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin, bố trí nguồn lực cho công tác đào tạo cán bộ. Đối với Chi cục Thuế, cần xây dựng kế hoạch thu cụ thể hàng năm, tăng cường thanh tra kiểm tra. Về lâu dài, cần nghiên cứu áp dụng mô hình quản lý thuế điện tử toàn diện, hướng tới nền quản trị thuế hiện đại, minh bạch.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

20/04/2026
Luận văn thạc sĩ tăng cường quản lý các khoản thu từ đất tại chi cục thuế huyện thanh ba tỉnh phú thọ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CÁC KHOẢN THU TỪ ĐẤT 1. Cơ sở lý luận về quản lý các khoản thu từ đất 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài * Khái niệm về Thuế: Trong giới các học giả và trên các sách báo kinh tế thế giới đến nay vẫn chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm thuế. Trên giác độ phân phối thu nhập thì: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước.

Trên giác độ người nộp thuế thì: Thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ Nhà nước. Trên giác độ kinh tế học thì: Thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công, nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước. Ở Việt Nam, đến nay cũng chưa có một khái niệm thống nhất về thuế. Theo Từ điển tiếng Việt thì “Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp, v.

buộc phải nộp cho nhà nước theo mức quy định “. Những khái niệm về thuế nêu trên mới nhấn mạnh một chiều theo quan niệm của từng góc độ khác nhau, nên chưa thật đầy đủ và chính xác được bản chất của thuế. Đến nay, tuy chưa có một định nghĩa về thuế thống nhất, nhưng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 6 các nhà kinh tế đều nhất trí cho rằng, để làm rõ được bản chất của thuế thì định nghĩa về thuế phải nêu bật được các khía cạnh sau đây: - Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân, không mang tính hoàn trả trực tiếp; - Những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt, việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của nhà nước; - Các các pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nước các khoản thuế đã được pháp luật quy định; - Và việc sử dụng tiền thuế phải dành cho mục đích chung. Tuy nhiên, trong tiến trình phát triển xã hội, việc quy định thuế phải được sử dụng chung cũng là một vấn đề cần xem xét.

Có những loại thuế được thu chỉ nhằm một mục đích định trước và trao cho một số đối tượng quy định. Vai trò quản lý các khoản thu từ đất đai 1. Nhà nước là đại diện chủ sở hữu toàn dân để thống nhất quản lý toàn bộ đất đai Căn cứ vào Luật Đất đai được ban hành năm 2013, Nhà nước là đại diện chủ sở hữu toàn dân để thống nhất quản lý toàn bộ đất đai thông qua việc Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai về các mặt: Mục đích sử dụng đất, hạn mức giao đất, thời hạn sử dụng đất; giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất. Đồng thời, Nhà nước còn thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai thông qua các chính sách tài chính về đất đai.

Nhà nước sẽ trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất ổn định, quy định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Các quyền về đất đai là những quy ước xã hội được hỗ trợ bằng quyền lực của Nhà nước hoặc của cộng đồng cho phép các cá nhân hoặc nhóm người Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 7 đòi hỏi được hưởng lợi ích hoặc dòng thu nhập mà Nhà nước đồng ý bảo vệ thông qua việc giao nhiệm vụ cho những người khác, những người có thể đáp ứng hoặc can thiệp bằng một cách nào đó tới dòng lợi ích này. Nhà nước đóng vai trò quan trọng thông qua việc xác định các quyền về sở hữu tài sản, cách thức để các quyền đó được thực thi và điều chỉnh khi các điền kiện kinh tế thay đổi. Hơn nữa, các quyền sở hữu tài sản đối với đất đai không ở trạng thái tĩnh, mà phát triển để đáp ứng những thay đổi của môi trường kinh tế - xã hội.

“Dưới góc nhìn kinh tế, quyền sở hữu tư nhân về đất đai chỉ còn mang ý nghĩa thu lợi nhuận từ địa tô. Dù chấp nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai hay không thì quản lý nhà nước về đất đai là một nhu cầu tất yếu để tạo nguồn thu cho nhà nước và điều chỉnh mối quan hệ giữa chủ đất và người sử dụng đất” (Dương Thị Phương Nhung, 2010). Nhà nước là chủ sử dụng trực tiếp đối với bộ phận đất công Toàn bộ đất đai thuộc sở hữu toàn dân được chia ra 2 bộ phận chính: bộ phận đất công do Nhà nước nắm giữ để sử dụng vào các mục đích chính (bao gồm: sông, biển, rừng, núi, công trình công cộng, công sở, cơ sở quốc phòng - an ninh, đất chưa khai thác); bộ phận còn lại được giao cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài, có thể coi như “đất tư”. Giữa hai bộ phận đất công và “đất tư” có thể chuyển dịch theo tình hình cụ thể để đáp ứng nhu cầu của Nhà nước và của dân.

Với vai trò thứ nhất nêu trên, cơ quan chính quyền các cấp thực hiện chức năng quản lý Nhà nước bằng chính sách và pháp luật thống nhất để đảm bảo kỷ cương xã hội và lợi ích cơ bản lâu dài. Đó là việc: quy hoạch và kế hoạch, thu thuế hoặc tiền sử dụng đất, giao và cho thuê đất, thu hồi hoặc tịch thu (do giải toả cho mục đích chung, do vi phạm pháp luật), cấm sử dụng sai mục đích, cấm xây dựng (một số loại công trình trên một số loại đất, đăng ký và chứng nhận quyền sử dụng đất xử lý các tranh chấp về đất đai, quản lý thị Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 8 trường đất đai. Đó chính là quyền định đoạt (cao nhất) và hưởng lợi ích của Nhà nước. Tuy nhiên ở vai trò thứ hai này, các cơ quan và đơn vị thuộc Nhà nước cũng là “người” sử dụng đất, là đối tượng điều chỉnh của Luật (về quyền và nghĩa vụ của tổ chức và cá nhân sử dụng đất), bình đẳng với các đối tượng khác trước pháp luật.

Là công cụ quan trọng của nhà nước góp phần thực hiện quản lý đất đai, quản lý thị trường bất động sản. Thông qua thu các khoản thu liên quan đến đất đã giúp Nhà nước nắm được hoạt động mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất và có biện pháp quản lý thị trường bất động sản để từ đó thực hiện điều tiết công bằng và quản lý của Nhà nước đối với đất đai. Tác động tích cực tới sản xuất kinh doanh, thu hút vốn đầu tư: thông qua các ưu đãi về tiền sử dụng đất và tiền thuê đất đã góp phần thu hút đầu tư trong và ngoài nước. Thực hiện chính sách công bằng xã hội, chính sách miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp do mất mùa, cho các hộ nghèo, vùng sâu, vùng xa; Miễn giảm thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (trước đây là thuế nhà đất) cho hộ nghèo, người có công với cách mạng.

Các khoản thu chủ yếu từ đất đai 1. Thu tiền sử dụng đất Đối tượng phải nộp tiền sử dụng đất trong các trường hợp: giao đất có thu tiền sử dụng đất; chuyển mục đích sử dụng đất từ đất Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất sang đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất; chuyển từ hình thức thuê đất sang hình thức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất. Tiền sử dụng đất phải nộp NSNN được xác định theo công thức sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 9 Tiền sử dụng Tỷ lệ % tiền Tiền bồi thường, hỗ Diện Giá đất phải nộp = x X sử dụng đất - trợ, tiền SDĐ được tích đất đất NSNN (nếu có) miễn, giảm (nếu có) 1. Tiền thuê đất Nhà nước thu tiền thuê đất, thuê mặt nước khi Nhà nước cho thuê đất, mặt nước, chuyển từ hình thức được Nhà nước giao đất sang cho thuê đất.

Đơn giá thuê đất một năm tính bằng tỷ lệ phần trăm (%) trên giá đất và có thể phân loại theo mục đích sử dụng đất thuê do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định. Căn cứ vào quy định chính sách về xác định đơn giá thuê đất do Chính phủ và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định thì Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan có thẩm quyền quyết định đơn giá thuê đất, thuê mặt nước của các tổ chức, cá nhân thuê đất. Tiền thuê đất phải nộp NSNN được tính theo công thức sau: Tiền thuê đất Đơn giá Diện tích Số tiền thuê đất phải nộp = thuê đất x phải nộp - được giảm theo 01 năm tiền thuê đất quy định (nếu có) 1. Thuế sử dụng đất nông nghiệp Tổ chức, cá nhân sử dụng đất vào sản xuất nông nghiệp có nghĩa vụ nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp (gọi chung là hộ nộp thuế) gồm: Các hộ gia đình nông dân, hộ tư nhân và cá nhân; Các tổ chức, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp thuộc quỹ đất dành cho nhu cầu công ích của xã; Các doanh nghiệp nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản bao gồm nông trường, lâm trường, xí nghiệp, trạm trại và các doanh nghiệp khác, cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang, tổ chức xã hội và các đơn vị khác sử dụng đất vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản.

Căn cứ tính thuế SDĐNN là diện tích, hạng đất và định suất thuế tính bằng kilôgam thóc trên một đơn vị diện tích của từng hạng đất. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www. Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (trước đây là thuế nhà đất) Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (SDĐPNN) ra đời và có hiệu lực thi hành từ 01/01/2012 thay thế thuế nhà đất trước đây.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ