CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA DE TÀI 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về quyền lực trong mối quan hệ cặp đôi Vào năm 1937, Waller đã nghiên cứu về bối cảnh hẹn hò tại một trường cao đẳng công lập [87]. Ông nhắn mạnh rằng “sự kiểm soát tuân theo nguyên tắc ít quan tâm nhất, tức là người kiểm soát là người ít quan tâm đến việc tiếp tục mối quan hệ”.
Khang định này của Waller đã tạo nên tiền đề của rất nhiều lý thuyết về quyền lực trong các mối quan hệ, bao gồm lý thuyết phụ thuộc lẫn nhau của Thibaut and Kelley (1959) [61] và các lý thuyết trao đổi xã hội liên quan khác như của Blau (1964) [15] và Homans (1961) [36]. Tất cả các lý thuyết này đều cho rằng trong mối quan hệ lãng mạn một người sẽ có nhiều quyền lực hơn người kia nếu họ ít quan tâm đến việc tiếp tục duy trì mối quan hệ. Một mối quan hệ cân bằng về quyền lực được đánh giá là đem lại sự ồn định, gần gũi và bớt hỗn loạn hơn mối quan hệ không cân bằng đối với cả hai giới [14]. Một số nhà nghiên cứu đã tìm thấy mối liên hệ giữa mối quan hệ bình đăng (tức là quyền lực ngang nhau) và mức độ hài lòng của các thành viên trong mối quan hệ đó [25, 32, 62].
Và quyền lực khi không được cân bang sẽ gây ra nhiều tác động tiêu cực đến mối quan hệ tình cảm. Nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng chất lượng mối quan hệ bị giảm sút được tìm thấy ở những cặp đôi không có sự cân băng về quyền lực [52]. Khi cá nhân nhận thay ban thân là người nắm giữ it quyền lực hơn, họ có xu hướng cảm thay ít hài lòng về mối quan hệ [69, 63], điều này có thé dẫn đến việc gây ra bạo lực thê chất, bạo lực tình dục và bạo lực tỉnh thần đối với nửa kia [63]. Thậm chí khi bị bất bình đăng trong quyền lực, nhiều khả năng cặp đôi sẽ kết thúc mối quan hệ hơn [28].
Bên cạnh đó, quyền lực thường được nghiên cứu với bạo lực và các hành vi nguy cơ trong mối quan hệ cặp đôi [8, 33, 34, 60]. Trong một nghiên cứu vào năm 2022, Toplu-Demirtas and Fincham đã tìm hiểu về mối liên hệ giữa nhận thức về quyền lực của bản thân và bạo lực hẹn hò ở 812 sinh viên [63]. Kết qua cho thay sự khác biệt về giới nồi lên ở tỷ lệ bạo lực thé chat (43% đối với nữ và 35% đối với nam) và bạo lực tình dục (25% đối với nữ và 41,8% đối với nam). 11 Những cá nhân sở hữu quyền lực thấp thường có xu hướng sẵn sàng cống hiến nguồn lực của mình vì mục tiêu của đối phương.
Họ sẽ đồng thời ưu tiên và năm bắt các mục tiêu của nửa kia nhiều hơn là những cá nhân có quyền lực cao. Với những cá nhân tự nhận bản thân có quyền lực thấp, nếu họ đang cố gắng cải thiện phần thưởng (vật chất, tinh thần.) của người ấy bằng cách đáp ứng mong muốn của họ, những cá nhân này có nhiều khả năng sẽ sử dụng các chiến lược phục tùng đối tác khi xảy ra xung đột với người ấy [18], có nghĩa là họ sẽ nhượng bộ và cố găng “thỏa mãn nhu cầu của đối tác hơn là nhu cầu của chính họ” [93, tr. Trong một nghiên cứu của Laurin và cộng sự (2016) đã chỉ ra rằng những người cảm thấy quyền lực thấp trong mối quan hệ và những người ít quyền lực trong quá trình ra quyết định sẽ lựa chọn theo đuổi mục tiêu của đối phương nhiều hơn và của bản thân ít hơn khi so sánh với những người có quyền lực cao hơn [48]. Nói cách khác, người cảm thấy ít quyền lực trong mối quan hệ cặp đôi sẽ lựa chọn theo đuôi các mục tiêu của đối phương hơn là những người cho rằng mình có quyền lực cao hơn trong mối quan hệ.
Kết quả tương tự cũng được tìm thấy ở nghiên cứu mới đây rằng cá nhân có quyền lực cao hơn hướng đến các mục tiêu của bản thân và ít chú ý đến các mục tiêu của đối phương [89]. Nhìn ở góc độ giới, có rất ít nghiên cứu báo cáo có sự cân bằng về quyền lực [58]. Đa số các nghiên cứu báo cáo đàn ông có quyền lực cao hơn phụ nữ [51, 78, 28, 46]. Trong những trường hợp nữ giới tự nhận bản thân có nhiều quyền lực trong mối quan hệ thường không có nhu cầu gia tăng quyền lực, nhưng những đối phương của họ là nam giới lại có mong muốn quyền lực của mình được nâng cao hơn [64].
Tuy nhiên, nhu cầu gia tăng quyền lực ở dan ông lại là dấu hiệu xấu đến mối quan hệ, chăng hạn như giảm sự hài lòng và giảm sự ôn định trong mối quan hệ [82], gây ra hành vi tình dục hung hăng và bạo lực gia đình [44]. Trong các cuộc hôn nhân, khi người vợ chiếm ưu thé, mối quan hệ được báo cáo là không hạnh phúc và it hài lòng, trong khi đó những cặp vợ chồng có sự cân băng về quyền lực lại cảm thấy hài lòng hơn về mối quan hệ [32]. Ở Việt Nam, vào năm 2016, Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) đã thực hiện một nghiên cứu về quyền lực trong mối quan hệ đồng tính luyến ái trên toàn Việt Nam với 7151 khách thê tham gia nghiên cứu 12 định lượng và 18 khách thê tham gia nghiên cứu định tính [3]. Kết quả cho thấy 73% khách thể mong muốn hai người có quyền ngang bằng nhau trong mối quan hệ.
Tuy nhiên, nhóm giới tính nữ (78,6%) có kỳ vọng vào mối quan hệ bình quyền cao hơn nhóm giới tính nam (67. Trong nghiên cứu định tính, những người trả lời cho rằng ban thân là người có sức mạnh quyền lực với ban thân và trong mối quan hệ luyến ái thì đều có khả năng tự chủ trong các mối quan hệ, ra quyết định với bản thân và người yêu, lựa chọn hành vi an toàn tình dục và các vấn đề khác liên quan đến mối quan hệ tình cảm. Trong khoảng mười năm nay, các mô hình và lý thuyết nghiên cứu trên cặp đôi ngày càng được quan tâm hơn vì chúng cung cấp bức tranh tông quát hơn về mỗi quan hệ giữa hai người, qua đó chúng “nhìn nhận từng đối tác là phụ thuộc vào nhau chứ không độc lập với nhau” [66]. Kim và các cộng sự (2019) cũng chỉ ra tầm quan trọng của việc nghiên cứu cặp đôi, đặc biệt là về quyền lực trong mối quan hệ [44].
Vì những ban tự bao cáo của cá nhân đơn lẻ có thể đưa ra ý kiến sai lệch và chủ quan. Đóng góp lớn đến lý thuyết và nghiên cứu về quyền lực trên cặp đôi là mô hình quyền lực - ảnh hưởng xã hội theo cặp (Dyadic Power-Social Influence Model - DPSIM) của Simpson và cộng sự vào năm 2015 [77]. Dựa trên mô hình này, Farrel, Simpson và Rothman (2015) đã tiến hành ba nghiên cứu về quyền lực trong mối quan hệ tình cảm để xây dựng thang đo Relationship Power Inventory (RPI), mà theo Kim và cộng sự (2019) nhận định rằng thang đo RPI là một “công cụ do lường đầy hứa hen dé đánh giá quyền lực trên nhiều lĩnh vực” [44]. Thang đo RPI, là thang do Likert 7 mức độ với 1 là không bao giờ va 7 là luôn luôn, chứa các item đánh giá về quyền lực của cả bản thân và đối phương bao gồm các item về quá trình sử dụng quyền lực và các item về kết quả sử dụng quyền lực.
Cấu trúc của thang đo có thể đánh giá xem các cá nhân có khả năng chống lại những nỗ lực gây ảnh hưởng từ đối tác như thế nào, từ đó đánh giá khía cạnh cốt lõi của quyền lực. Với thang đo RPI tổng quát, độ hiệu lực giữa các item cao với a =. Sau 3 tháng làm lại trắc nghiệm, điểm số của thang do RPI tổng quát vẫn tương quan cao trong 2 bản đánh giá (r =. RPI tổng quát thường được sử dụng trên đa số các nhóm khách thể người Mỹ với độ hiệu lực là œ = .84 với phụ nữ va a = .85 với đàn ông [64]; và có độ hiệu lực cao khi chạy riêng các item về quá trình sử dụng quyên lực và kết quả sử dụng quyền lực lần lượt là œ = .86 [48], về quyền lực của cá nhân a = .91 và quyền lực của đối phương ơ =.
Bên cạnh đó, Alonso-Ferres và cộng sự (2022) đã thích ứng thang do RPI phiên bản tiếng Tây Ban Nha có độ hiệu lực cao ở cả 4 thành tô về quyền lực, bao gồm KQQLBT a =0. Có thé thấy rằng thang do RPI đã được đo lường trên nhiều khách thé với độ hiệu lực cao, tuy nhiên, các nghiên cứu trên mới chỉ được thực hiện ở các nước phương Tây, vì vậy rất cần có nghiên cứu được thực hiện trên nước A Châu dé bé sung vào cơ sở lý luận đang còn thiếu. Từ phan tông quan tài liệu nghiên cứu ở trên, ta thay rang các nghiên cứu về quyền lực trong mối quan hệ tình cảm đã được tìm hiểu từ lâu trên thế giới, thế nhưng các nghiên cứu ở Việt Nam vẫn còn rất hạn chế về số lượng. Không chỉ vậy, các nghiên cứu đo lường quyền lực ở cặp đôi mới chỉ được thực sự quan tâm trong gần một thập kỷ đồ lại, vì vậy luận văn này muốn tìm hiểu sâu hơn về quyền lực dé bổ sung cho phần cơ sở lý luận trong và ngoài nước.
Các nghiên cứu về sự cam kết trong mỗi quan hệ cặp đôi Nhiều quan điểm về sự cam kết hiện nay đều có nguồn gốc từ lý thuyết phụ thuộc lẫn nhau hoặc lý thuyết trao đổi [68]. Ông phát triển mô hình ba phan (tripartite model) bao gồm sự cam kết cá nhân, cam kết đạo đức và cam kết cấu trúc. Cam kết cá nhân là cảm giác mà một người muốn duy trì trong mối quan hệ, trong khi cam kết đạo đức là ý thức về nghĩa vụ phải ở lại, và cam kết cấu trúc nói đến những ràng buộc hoặc ap lực có thể khiến các đối tác ở lại với nhau [40]. Nói đến sự cam kết trong mỗi quan hệ cặp đôi, không thể không nhắc đến cam kết trong lý thuyết Tam giác tình yêu của Sternberg (1986) là một trong ba thành tố quan trọng của tình yêu cùng với sự gần gũi và đam mê [81].
Nếu có đủ ba thành tổ này, đây sẽ là tình yêu hoàn hảo và lý tưởng cho mọi người hướng tới.