Chương 1 - Cơ sở lý luận của việc hình thành thiết chế tài chính để kiểm soát chất lượng hàng hóa sau công bố chất lượng. Chương 2 - Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về chất lượng hàng hóa sau công bố chất lượng trên địa bàn thành phố Hà Nội. Chương 3 - Xây dựng thiết chế tài chính để nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng hàng hóa sau công bố chất lượng trong các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH THIẾT CHẾ TÀI CHÍNH ĐỂ KIỂM SOÁT CHẤT LƢỢNG HÀNG HÓA SAU CÔNG BỐ CHẤT LƢỢNG 1.
Hệ khái niệm 1. Khái niệm thiết chế tài chính Thiết chế xã hội là khái niệm chỉ toàn bộ hệ thống tổ chức và hệ thống giám sát mọi hoạt động của xã hội. Nhờ các thiết chế xã hội mà các quan hệ xã hội kết hợp lại với nhau, đảm bảo cho các cộng đồng hoạt động nhịp nhàng. Về mặt tổ chức, thiết chế xã hội là hệ thống các cơ quan quyền lực, các đại diện cho cộng đồng, đảm bảo những hoạt động đáp ứng những nhu cầu khác nhau của cộng đồng và cá nhân.
Ngoài việc giám sát của các hệ thống tổ chức, còn có hệ thống giám sát không mang những hình thức có tổ chức. Đó là phong tục, tập quán, dư luận, luôn luôn đánh giá và điều chỉnh hành vi của các thành viên trong cộng đồng xã hội. Các thiết chế xã hội đều có nhiệm vụ: đáp ứng các loại nhu cầu khác nhau của cộng đồng và của các thành viên, điều chỉnh hoạt động của các bộ phận trong cộng đồng và của các thành viên, kết hợp hài hoà các bộ phận, đảm bảo sự ổn định của cộng đồng. Có nhiều loại thiết chế khác nhau: + Thiết chế kinh tế, tài chính bao gồm những thiết chế liên quan đến việc sản xuất và phân phối của cải, điều chỉnh sự lưu thông tiền tệ, tổ chức và phân công lao động xã hội.
+ Thiết chế chính trị là những thiết chế như chính phủ, quốc hội, các đảng phái và tổ chức chính trị. + Thiết chế tinh thần là những thiết chế liên quan đến các hoạt động văn hoá, nghệ thuật, giáo dục, khoa học, tôn giáo. + Thiết chế giao tiếp công cộng bao gồm tất cả các khuôn mẫu và phương thức hành vi trong sự giao tiếp công cộng. Các mối quan hệ xã hội giữa người với người đều kinh qua những thiết chế.
Những thiết chế này đều có tính độc lập tương đối so với các quan hệ xã 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hội ấy. Thiết chế thường có tính chất lạc hậu hơn so với các biến đổi của các quan hệ xã hội. Việc cải biến và thay đổi các thiết chế xã hội liên quan trực tiếp đến quản lí xã hội và các chính sách xã hội. Thiết chế tài chính là một trong các thiết chế xã hội.
Thiết chế tài chính có thể được hiểu là tổng thể các quy định và tổ chức về tài chính nhằm giám sát hoạt động của đời sống xã hội, góp phần bảo đảm sự vận hành bình thường của đời sống xã hội. Hiệu quả quản lý của thiết chế tài chính Trong hoạt động quản lý, các chủ thể quản lý có thể sử dụng các thiết chế quản ý khác nhau. So với những thiết chế quản lý khác, thiết chế tài chính có những điểm ưu trội trên một số phương diện. Thứ nhất, thiết chế tài chính tác động trực tiếp vào lợi ích của đối tượng quản lý.
Với việc sử dụng thiết chế tài chính, chủ thể quản lý có thể khuyến khích các đối tượng quản lý thực hiện theo định hướng mà chủ thể quản lý mong đợi. Mặt khác, thông qua thiết chế này, có thể tác động đến lợi ích vật chất, làm giảm lợi ích vật chất, doanh thu của đối tượng quản lý khi chủ thể quản lý áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm, yêu cầu khắc phục hậu quả. Thứ hai, thiết chế tài chính có tác động ngăn ngừa, tạo ra áp lực phải tuân thủ các quy định đã được đặt ra. Vì thiết chế tài chính tác động đến lợi ích của các chủ thể, vì vậy, sự tác động của thiết chế này tạo ra áp lực phải tuân thủ.
Nếu đi ngược lại các quy định của thiết chế tài chính, đối tượng sẽ chịu thiệt hại về mặt kinh tế. Thiết chế tài chính là thiết chế có tác dụng ngăn ngừa, đề phòng vi phạm. Bên cạnh việc sử dụng các biện pháp thuyết phục, vận động thì thiết chế tài chính có vai trò, ý nghĩa rất lớn trong việc bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm pháp chế. Có thể khẳng định: không có cưỡng chế, không sử dụng thiết chế tài chính thì không có trật tự, quyền và lợi ích của nhà nước cũng như của mỗi cá nhân, tổ chức bị xâm phạm.
Điều kiện áp dụng thiết chế tài chính Để áp dụng thiết chế tài chính hiệu quả, các quy định về thiết chế tài chính cần phù hợp với yêu cầu kiểm soát chất lượng hàng hóa, có tính thực 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tiễn và bao quát được các khía cạnh của quản lý chất lượng hàng hóa. Trong triển khai thực hiện các thiết chế tài chính, vấn đề căn bản là cần có sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong việc quy định các loại hình sản phẩm, hàng hóa cần phải công bố chất lượng, hoạt động kiểm tra, giám sát và xử lý các vi phạm về chất lượng hàng hóa sau công bố. Việc quản lý chất lượng hàng hóa sau công bố liên quan đến nhiều chủ thể quản lý khác nhau. Nếu thiếu sự phối hợp hiệp đồng giữa các chủ thể này thì các thiết chế tài chính khó đi vào thực tiễn hoặc chỉ áp dụng đơn lẻ đối với một số ít hàng hóa, một số ít doanh nghiệp sản xuất mà không tạo nên một thiết chế hiệu quả trong kiểm soát chất lượng hàng hóa.
Khái niệm về chất lượng hàng hóa Trong đời sống hàng ngày, chúng ta thường xuyên tiếp cận và nói nhiều các thuật ngữ "chất lượng", "chất lượng sản phẩm", "chất lượng cao",. Mỗi quan niệm đều có những căn cứ khoa học và thực tiễn khác nhau nhằm thúc đẩy khoa học quản lý chất lượng không ngừng phát triển và hoàn thiện. Tuy nhiên, chất lượng là một phạm trù phức tạp, một vấn đề gây nhiều tranh cãi, vì vậy, định nghĩa về chất lượng có những khác biệt tùy theo đối tượng sử dụng, tùy theo thời gian và cách tiếp cận. Theo quan điểm của triết học Mác-Lênin, chất lượng là mức độ, thước đo biểu hiện giá trị sử dụng của nó.
Giá trị sử dụng của sản phẩm làm nên tính hữu ích của sản phẩm và nó chính là chất lượng sản phẩm. Chất lượng theo quan niệm thông thường được hiểu là tốt và tuyệt với của sản phẩm. Quan niệm này mang tính trừu tượng vì chất lượng hàng hóa, sản phẩm không thể xác định một cách chính xác, đầy đủ và như nhau trong cảm nhận của các nhóm đối tượng. Chất lượng theo quan niệm của nhà sản xuất là sự đáp ứng và phù hợp của sản phẩm, dịch vụ với một tập hợp các yêu cầu, quy cách được xác định trước.
Chất lượng được hiểu là tổng hợp những tính chất đặc trưng của sản phẩm thể hiện mức độ thỏa mãn các yêu cầu định trước cho nó trong điều kiện kinh tế, xã hội nhất định. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chất lượng hướng theo thị trường, trong nền kinh tế thị trường, khi mô tả chất lượng sản phẩm, hàng hóa, người ta nêu bật bản chất mà người sản xuất người tiêu dùng gặp nhau: yêu cầu sử dụng cao và giá trị phù hợp. Có rất nhiều định nghĩa chất lượng được các tác giả nêu ra: - Theo Tổ chức kiểm tra chất lượng châu Âu (European organization for quality control): chất lượng là mức độ phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng; - Theo tiêu chuẩn của Australia (AS1057-1985) thì "Chất lượng là sự phù hợp với mục đích". - Theo một số chuyên gia quản lý chất lượng nổi tiếng thì: chất lượng là mức độ dự đoán trước tính đồng đều để tin cậy, tại mức chi phí thấp và thị trường chấp nhận (W.
Deming); Chất lượng là những đặc tính cơ bản của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ mà khi sử dụng sẽ làm cho sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đáp ứng được mong đợi của khách hàng (A.Feigenbaun); Chất lượng là sự thỏa mãn nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất (Ishikawa). Theo quan điểm chất lượng hướng theo công nghệ thì chất lượng sản phẩm là “tổng tính chất đặc trưng của sản phẩm thể hiện ở mức độ thỏa mãn những yêu cầu định trước cho nó trong những điều kiện xác định về kỹ thuật, kinh tế, xã hội”. Chất lượng sản phẩm là tập hợp những tính chất của sản phẩm có khả năng thỏa mãn được những nhu cầu phù hợp công dụng của sản phẩm đó, chất lượng sản phẩm là sự phù hợp các tiêu chuẩn hoặc quy định kỹ thuật. Từ khi tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế ISO đưa ra định nghĩa ISO 9000:1994 (TCVN 5814-1994) thì các cuộc tranh cãi lắng xuống và nhiều nước chấp nhận định nghĩa này: "Chất lượng là một tập hợp các tính chất và đặc trưng của sản phẩm tạo ra cho nó khả năng thỏa mãn nhu cầu đã được nêu ra hoặc còn tiềm ẩn".
Qua các định nghĩa trên ta có thể nêu ra 3 điểm cơ bản về chất lượng sản phẩm hàng hoá sau đây: 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Chất lượng sản phẩm là một tập hợp các chỉ tiêu, các đặc trưng thể hiện tính năng kỹ thuật nói lên tính hữu ích của sản phẩm. + Chất lượng sản phẩm phải được gắn liền với điều kiện cụ thể của nhu cầu, của thị trường về các mặt kinh tế, kỹ thuật, xã hội và phong tục. + Chất lượng sản phẩm phải được sử dụng trong tiêu dùng và cần xem xét sản phẩm thỏa mãn tới mức nào của người tiêu dùng. Ở nước ta, Luật chất lượng sản phẩm, hàng hoá (Luật số 05/2007/QH12) cũng chỉ rõ: Chất lượng sản phẩm, hàng hoá là mức độ của các đặc tính của sản phẩm, hàng hoá đáp ứng yêu cầu trong tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.
Chất lượng hàng hóa thể hiện khả năng hàng hóa đáp ứng nhu cầu nhất định của con người. Nói cách khác, chất lượng hàng hóa là thước đo mức độ có ích của giá trị sử dụng. Chất lượng hàng hóa được xác định theo mục đích sử dụng cụ thể, theo nhu cầu của đối tượng sử dụng.