Mở đầu. Tổng quan vấn đề nghiên cứu. ~ Chương 2: Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. ~ Chương 3: Kết quả nghiên cứu.
~ Kết luận và kiến nghị. CHUONG 1 TONG QUAN VAN DE NGHIEN CUU 1. Khái niệm và phân loại rừng Hệ sinh thái rừng chủ yếu bao gồm sinh vật rừng và môi trường vật lý xung quanh. Các nhân tố như cây, nước, đắt, không khí, động vật, côn trùng.
đều là nhân tố quan trọng và cầu thành nên hệ sinh thái rừng. Các nhà lâm học đã định nghĩa về rừng như sau: ~ Theo Morozov (1912): Rừng là một quần xã cây gỗ, trong đó chúng biểu hiện ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, làm nảy sinh các hiện tượng mới mà không đặc trưng cho những cây mọc lẻ. Trong rừng không những chỉ có các quan hệ qua lại giữa các cây rừng với nhau mà còn có ảnh hưởng qua lại giữa cây rừng với đất và môi trường. không khí; rừng có khả năng tự phục hồi.
~ Theo Tansley (1935): Rừng là một hệ sinh thái trong đó thành phần chủ yếu là các cây gỗ và mối quan hệ của nó với hoàn cảnh sống. ~ Theo Sucachev (1964): Rừng là một quần lạc sinh địa, là một khoảnh đất bắt kỳ có sự đồng nhất về thành phản, cấu trúc, các đặc điểm của các thành phần tạo nên nó và mối quan hệ giữa chúng với nhau, có nghĩa là đồng nhát về thực vật che phủ, về thế giới động vật và vi sinh vật cư trú tại đó, về các điều kiện tiểu khí hậu, thủy văn và đất đai, về các kiểu trao đổi vật chất và năng lượng giữa các thành phần của nó với nhau và với các hiện tượng tự nhiên khác.Belov (1976): Rừng là hệ thống sinh học tự điều chỉnh, bao gồm thảm cây gỗ, cây bụi, thảm cỏ, động vật, vi sinh vật, đất và chế độ thủy văn, không khí và các sinh vật sống trên mặt đắt. Theo định nghĩa trong Luật Lâm nghiệp năm 2017 của Việt Nam: Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nắm, vỉ sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liên vùng từ 0.3 ha trở lên; độ tan che tir 0,1 trở lên. Phân loại rừng là cơ sở quan trọng để thiết lập hệ thống quy định vẻ tổ chức thực.
hiện quan lý tài nguyên rừng. Các quốc gia khác nhau áp dụng các hình thức phân loại khác nhau. Tùy theo đặc điểm của mỗi nước thường phân theo hai loại bao gồm: Phân loại rừng theo điều kiện tự nhiên và phân loại rừng dựa vào quyền sở hữu/sử dụng hoặc theo mục đích sử dụng. Tại Việt Nam, rừng được phân loại theo mục đích sử dụng gồm 3 loại: đặc dụng, phòng hộ và sản xuất.
Có sự khác biệt về phân loại rừng ở nước ta với một số nước trên thế giới đã xếp rừng đặc dụng và phòng hộ thành rừng bảo vệ và rừng sản xuất thành rừng kinh tế. Song, quy định rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn, rừng phòng hộ được sử dụng chủ yếu để bảo vệ cơ bản phù hợp với xu hướng quốc tế xếp các loại rừng này vào nhóm cần được bảo vệ. ~ Theo Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT ngày 16 tháng 11 năm 2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về điều tra, kiểm kê và theo dõi diễn biến tài nguyên rừng, rừng được phân chia theo: + Nguồn gốc hình thành (rừng nguyên sinh, rừng thứ sinh, + Theo điều kiện lập địa (rừng núi đất, rừng núi đá, rừng ngập nước + Theo loài cây (rừng cây lá rộng, rừng cây lá kim, rừng tre nứa,. + Theo trữ lượng (rừng giàu, rừng trung bình, rừng nghèo.
+ Diện tích chưa có rừng (diện tích có cây gỗ tái sinh, diện tích rừng chưa đạt tiêu chí thành rừng, diện tích khác đang được sử dụng để bảo vệ và phát triển rừng). Khái niệm rừng giàu, rừng trung bình và rừng nghèo được dùng để chỉ trạng thái (chủ yếu là trữ lượng) của rừng. Rừng nghèo là một loại rừng trong cách phân loại rừng theo trữ lượng cây rừng chính. Theo Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT ngày 16 tháng 11 năm 2018, đối với rừng gỗ: trữ lượng cây đứng lớn hơn 200 m°/ha là rừng giàu, trữ lượng cây đứng từ lớn hơn 100 đến 200 m”/ha là rừng trung bình, trữ lượng cây đứng từ lớn hơn 50 đến 100 mỶ/ha là rừng nghèo, trữ lượng cây đứng từ lớn hơn 10 đến 50 mỶ/ha là rừng nghèo kiệt và trữ lượng cây đứng dưới 10 m”/ha là rừng chưa.
Rừng nghèo trữ lượng cây đứng từ lớn hơn 50 đến 100 mỶ/ha. Tại các khu rừng. nghèo, cấu trúc rừng tương đối đơn giản, mật độ cây gỗ ít, trữ lượng gỗ thấp, cây sinh trưởng và phát triển kém, thảm thực bì phát triển rất mạnh tại các khoảng trồng trong. Rừng nghèo thường có mức độ tăng trưởng và phát triển rất chậm, là loại rừng tái sinh sau khi khu rừng cũ đã bị phá và phát triển mới không còn phù hợp với các loại cây tái sinh sau đó.
Và để hình thành lại khu rừng một cách tự nhiên với những loài cây cũ hay loài cây mong muốn sẽ phải mắt một thời gian rất di có thể phải qua rất nhiều diễn thế rừng khác nhau. Tình hình nghiên cứu phục hồi sinh thái trên thế giới và Việt Nam 1. Khái niệm phục hồi sinh thái Phục hồi sinh thái là quá trình hỗ trợ sự phục hồi của một hệ sinh thái đã bị suy thoái, hư hại hoặc bị phá hủy. Thực tiễn phục hồi sinh thái bao gồm các hoạt động như kiểm soát xói mòn, tái trồng rừng, sử dụng các loài bản địa, loại bỏ các loài ngoại lai và cỏ đại, tái phủ xanh khu vực bị tác động, trồng các loài bản địa cũng như cải thiện môi trường sống và phạm vi đối với các loài chính [55] Phục hồi sinh thái được định nghĩa là một quá trình đảo ngược sự xuống cấp của các hệ sinh thái như cảnh quan, hồ và đại dương để lấy lại chức năng sinh thái của chúng, nói cách khác là cải thiện năng suất và năng lực của các hệ sinh thái để đáp ứng nhu cầu xã hội.
Điều này có thể được thực hiện bằng cách đề các hệ sinh thái bị khai thác quá mức được tái sinh tự nhiên hoặc bằng cách trồng cây và các loại thực vật khác. Phục hồi rừng có thể được hiểu một cách khái quát là quá trình ngược lại của sự suy thoái. Theo quá trình diễn thế, sau khi phải chịu những tác động phi tự nhiên phá vỡ cân bằng sinh thái; với khả năng tự điều chỉnh và cơ chế nội cân bằng sinh thái thì nó có. xu hướng vận động thiết lập một trạng thái cân bằng mới (gần giống với trạng thái ban đầu).
Quá trình này được gọi là diễn thế phục hỏi. Nhưng với những tác động quá mạnh vượt ra ngoài ngưỡng tự điều chỉnh của hệ sinh thái rừng thì quá trình phục hồi lại sẽ rất chậm hoặc thậm chí nó không xảy ra. Lúc này cần sự tác động của con người nhằm thúc đây quá trình đó hoạt động mạnh nhất trong thời gian ngắn Nhu vậy, hoạt động phục hồi rừng được hiểu là các hoạt động có ý thức của con người nhằm làm đảo ngược quá trình suy thoái rừng. Để phục hồi lại các hệ sinh thái rừng đã bị thoái hoá, chúng ta có rât nÏ lựa chọn tuỳ thuộc vào từng đối tượng và mục đích cụ Trần Đình Lý (1995) cho rằng: Phục hồi rừng là một quá trình sinh địa phức tạp gồm nhiều thời gian và kết thúc bằng sự xuất một thảm thực vật cây gỗ (hoặc tre nứa) bắt đầu khép tán.
Nói một cách khác, phục hồi rừng là quá trình tái tạo lại một hệ sinh thái, một quần xã sinh vật mà trong đó cây gỗ là yếu tố cấu thành chủ yếu, nó. chỉ phối các quá trình biến đồi tiếp theo [22]. (1999) cho rằng: Phục hồi rừng là quá trình tái thiết lập khả năng sản xuất của hệ sinh thái ở một mức nào đó mà không nhất thiết phải có sự hiện diện của tất cả các loài động, thực vật như hệ sinh thái rừng nguyên sinh. Dưới tác động của các yếu tố sinh thái và kinh tế, những khu rừng phục hỏi có thê xuất hiện một số loài mới và một số dịch vụ khác cũng có thể được tái thiết lập [42].
Theo Võ Đại Hải và cộng sự (2003) cho rằng: Phục hồi rừng là phục hồi lại thành phần chủ yếu của rừng là thảm thực vật cây gỗ. Phục hồi rừng là một quá trình sinh học gồm nhiều giai đoạn và kết thúc bằng sự xuất hiện một thế hệ thảm cây gỗ bắt đầu khép tán. Quá trình phục hồi rừng sẽ tạo điều kiện cho sự cân bằng sinh học xuất hiện, đảm bảo cho sự cân bằng này tồn tại liên tục và cũng vì thế mà chúng ta sử dụng. liên tục được [8] 1.
Tình hình nghiên cứu phục hồi sinh thái trên thế giới 1. Nghiên cứu về cấu trúc rừng Nghiên cứu cơ sở sinh thái cấu trúc rừng điển hình là Baur G. (1964) đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa. đã đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên.
Từ đó tác giả đưa ra các nguyên lý tác động xử lý lâm sinh cải thiện rừng [3]. Catinot (1965) nghiên cứu cấu trúc hình thái rừng thông qua việc biểu diễn các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các nhân tố cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống, tầng phiến. Tác giả cho rằng muốn ổn định hệ sinh thái rừng nhất thiết phải nắm vững quy luật vận động, biết cách điều tiết mối quan hệ trong sự phức tạp [4]. Khái niệm hệ sinh thái được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tổ cấu trúc trên quan điểm sinh thái học [48] Theo quan điểm trên, các tác giả đã làm sáng tỏ các khái niệm vẻ hệ sinh thái rừng và đây là những cơ sở nghiên cứu các nhân tố ấu trúc đứng trên quan điểm sinh thái học.
mô tả hình thái cầu trúc rừng: Rừng mưa nhiệt đới đã được nhiều nhà khoa học đi sâu nghiên cứu như: Catinot R. Các tác giả đã biểu diễn hình thái cấu trúc rừng bằng những phẫu diện đồ ngang và đứng.