mở đầu,danh mục tài liệu tham khảo và kết luận, luận văn trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở của việc rèn luyện kĩ năng hệ thống hóa kiến thức Chƣơng 2: Các biện pháp rèn luyện HS kỹ năng hệ thống hóa kiến thức trong chương III: Sinh trưởng và phát triển; chương IV: Sinh sản - Sinh học 11 - THPT. Chƣơng 3: Thực nghiệm sư phạm 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ CỦA VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG HỆ THỐNG HÓA KIẾN THỨC 1. Hệ thống hoá kiến thức 1.1 Khái niệm hệ thống Lý thuyết hệ thống coi đối tượng nghiên cứu là một hệ toàn vẹn, bao gồm các thành tố có mối tác động qua lại lẫn nhau. Khái niệm hệ thống được Vonbertalanffy xác định như sau: “Hệ thống là một tổng thể các phần tử có quan hệ, có tương tác với nhau ”.
Hay định nghĩa của Miller: “Hệ thống là tập hợp các yếu tố cùng với những mối quan hệ tương tác giữa chúng với nhau”… Khái niệm hệ thống đã được triết học đề cập tới: Đó là một tổ hợp các yếu tố cấu trúc liên quan chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể, trong đó mối quan hệ qua lại biện chứng giữa các yếu tố cấu trúc đã làm cho đối tượng trở nên một chỉnh thể trọn vẹn và đến lượt mình, khi nằm trong mối quan hệ qua lại đó, chúng tạo nên những thuộc tính mới, các thuộc tính mới này không có ở những yếu tố cấu trúc. Mỗi yếu tố trong hệ thống lớn lại được tạo nên bởi những yếu tố nhỏ hơn. Như vậy, mỗi hệ thống lớn bao gồm nhiều hệ thống con tạo nên các cấp độ thứ bậc khác nhau. Trong bút kí triết học và nhiều tác phẩm của mình V.Lênin đã chú ý nhiều đến khái niệm chỉnh thể, cái toàn thể với cái bộ phận, cái toàn thể là một hệ thống lớn, cái bộ phận là từng hệ thống nhỏ, cũng như mối liên hệ biện chứng giữa các bộ phận với nhau và với hệ thống, giữa các hệ thống khác.
Nghiên cứu các lĩnh vực khác nhau về Sinh học đã có những ý kiến của các nhà khoa học đề cập đến bản chất, vai trò nhận thức một hệ thống và việc hệ thống hoá kiến thức.Pavlop đã thành công trong nghiên cứu sinh lí người khi và chỉ khi đã xem con người như một hệ toàn vẹn tự điều chỉnh. Tóm lại hệ thống là tổ hợp các yếu tố luôn tác động qua lại với nhau theo quan hệ hàng ngang và quan hệ trên dưới để tạo thành một chỉnh thể thống nhất và tồn tại trong một môi trường xác định. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khái niệm hệ thống hoá kiến thức Hệ thống hoá là làm cho các kiến thức về các sự vật, hiện tượng, quan hệ,… trở nên có hệ thống.
Trong dạy học, khi học các nội dung kiến thức nào đó người ta thường phân tích để sắp xếp chúng theo những quan hệ nhất định tạo thành một tổ hợp hệ thống logic gọi là hệ thống hoá kiến thức. Việc hệ thống hoá kiến thức phải dựa trên quan điểm tiếp cận cấu trúc hệ thống và có thể được trình bày bằng hệ thống, sơ đồ hệ thống hay trình bày theo một logic nhất định. Vai trò của việc hệ thống hoá kiến thức Hệ thống hoá kiến thức là một quá trình thực hiện các thao tác logic để sắp xếp kiến thức vào một hệ thống. Vì vậy, trong dạy học việc hệ thống hóa kiến thức được sử dụng để giáo viên tóm tắt tài liệu, sách giáo khoa một cách cô đọng.
Đồng thời tổ chức cho học sinh nghiên cứu các nguồn tài liệu và diễn đạt những thông tin đọc được, gia công nó theo một định hướng nhất định để rút ra được những mối quan hệ có tính quy luật giữa các sự vật và hiện tượng. Như vậy, việc hệ thống hoá kiến thức giúp HS hình thành được kiến thức mới, củng cố những điều đã học, sắp xếp chúng thành một hệ thống chặt chẽ, đồng thời hình thành kiến thức dưới một góc độ mới, lý giải được ý nghĩa sâu xa của kiến thức, biết cách diễn đạt ý tưởng của mình bằng ngôn ngữ của chính mình khi nghiên cứu nội dung Sinh học. Trong dạy học việc hệ thống hoá kiến thức sẽ có tác dụng rèn luyện học sinh những phẩm chất trí tuệ như: - Rèn luyện kĩ năng đọc tóm tắt tìm ra ý chính, cơ bản, cốt lõi nhất trong tài liệu, sách giáo khoa. Đồng thời thiết lập được mối quan hệ giữa các thành phần kiến thức.
Quá trình này đòi hỏi học sinh phải vận dụng thành thạo các thao tác tư duy cơ bản như: so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát, trừu tượng hoá, xác lập các mối 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quan hệ… Đây là quá trình gia công chuyển hoá tri thức sách vở thành tri thức bản thân. Như vậy, việc hệ thống hoá kiến thức giúp học sinh sử dụng được các nguồn tài liệu đa dạng, phát triển tư duy logic, tư duy hình tượng, tư duy biện chứng. Trên cơ sở đó, phát triển năng lực nhận thức và năng lực hành động chủ động và sáng tạo. - Qua việc hệ thống hoá kiến thức, học sinh biết cách đối chiếu, so sánh sự vật hiện tượng để tìm ra quy luật, nghĩa là rèn luyện học sinh khả năng khái quát hoá rút ra kết luận.
- Việc hệ thống hoá kiến thức còn giúp cho học sinh vừa chiếm lĩnh kiến thức, vừa hình thành phương pháp để đi tới chiếm lĩnh kiến thức cho bản thân, phát triển năng lực tiếp nhận và giải quyết vấn đề, năng lực tự học và thói quen tự học, sáng tạo, giúp cho học sinh có thể tự học suốt đời. Đây là một trong những yêu cầu căn bản của lí luận dạy học nói chung và lí luận dạy học Sinh học nói riêng. Kĩ năng Là khả năng vận dụng có mục đích và sáng tạo những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế để giải quyết một nhiệm vụ mới. Kỹ năng vừa thể hiện kỹ thuật hành động, vừa thể hiện năng lực của con người trong hoạt động nhận thức, hoạt động xã hội.
Kỹ năng được hình thành bằng con đường luyện tập, tạo khả năng cho con người thực hiện hành động không chỉ trong những điều kiện quen thuộc mà cả trong những điều kiện thay đổi. Kỹ năng bậc thấp được hình thành lần đầu tiên qua các hoạt động giản đơn. Khi kỹ năng đạt tới thành thạo, khéo léo thì trở thành kỹ xảo. Và khi có tri thức kết hợp với kỹ xảo sẽ nảy sinh kỹ năng bậc cao.Goluber có 5 mức độ hình thành kỹ năng như sau: Mức độ 1: Hình thành kỹ năng sơ đẳng, ý thức được mục đích hành động, biết được cách thức thực hiện hành động dựa trên vốn hiểu biết đã có (kỹ năng bậc thấp).
16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Mức độ 2: Biết cách làm nhưng chưa thành thạo. Có thể hiểu biết phương thức hành động, sử dụng được những kỹ xảo đã có. Mức độ 3: Có hàng loạt kỹ năng nhưng còn mang tính riêng lẻ, chưa kết hợp được với nhau. Mức độ 4: Có kỹ năng phát triển cao.
Có sự phối hợp và sử dụng sáng tạo vốn hiểu biết và các kỹ xảo đã có. Biết lựa chọn kỹ năng phù hợp với mục đích. Mức độ 5: Có tay nghề cao, sử dụng thành thạo, sáng tạo các khả năng khác nhau. Kĩ năng hệ thống hoá kiến thức Là khả năng vận dụng thành thạo, sáng tạo, có mục đích các thao tác phân chia sự vật, hiện tượng theo một trật tự logic chặt chẽ về nội dung, các yếu tố thành phần, mối quan hệ giữa các yếu tố trong sự vật, hiện tượng, từ đó phối hợp chúng, khái quát chúng cũng theo một trật tự logic nhất định thành một chỉnh thể mới tuỳ theo mục đích cần hệ thống.
Cơ sở thực tiễn Thực trạng của việc dạy học Sinh học ở các trường THPT Qua điều tra bằng cách tham khảo giáo án, xem vở ghi của HS, dự giờ của 20 giáo viên, trao đổi trực tiếp và điều tra bằng phiếu ở 30 giáo viên của một số trường THPT thuộc địa bàn thành phố Hải Phòng: Trường THPT Hồng Bàng, Trường THPT Tiên Lãng, Trường THPT An Dương, Trường THPT Ngô Quyền, Trường THPT Kiến An, Trường THPT Kiến Thụy, Trường THPT Quang Trung. Đồng thời kiểm tra khảo sát HS khối 11 ở 5 trường bằng câu hỏi trắc nghiệm khách quan về việc học tập của HS và tình hình GV cho HS sử dụng SGK, tình hình rèn luyện kĩ năng HTH kiến thức cho HS, chúng tôi thu được kết quả sau: 1. Việc dạy của giáo viên Mục đích điều tra nhằm tìm hiểu những nguyên nhân hạn chế chất lượng dạy học Sinh học cơ thể ở trường THPT. * Tình hình giáo viên cho HS sử dụng SGK 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Kết quả điều tra tình hình GV cho HS sử dụng SGK để hướng dẫn HTH kiến thức. Cách thức mục Sử dụng Sử dụng Ít sử dụng Không sử đích sử dụng thường không thường dụng xuyên xuyên Cho Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ Số Tỉ học người % người % người % người lệ% sinh Tự học nội 0 0 11 27,5 20 50 9 22,5 sử dung kiến dụng thức đơn SGK giản với mục Tóm tắt 0 0 3 7,5 21 52,5 6 40 nội dung đích kiến thức sau mới đây ở Phân tích 0 0 2 5 7 17,5 21 52,5 các tư liệu, mức: phân loại tài liệu Thiết lập 0 0 1 2,5 4 10 35 87,5 mối quan hệ giữa các thành phần kiến thức Gia công 0 0 0 0 0 0 0 0 trí tuệ, chuyển hóa nội dung kiến thức thành sơ đồ, bảng HTH 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Qua bảng 1.1 cho thấy: - Ở trên lớp, SGK chỉ được sử dụng để HS tự đọc những nội dung kiến thức đơn giản mà không yêu cầu HS gia công sử lý nội dung như phân loại tài liệu, phân tích tư liệu, tổng hợp. - Qua dự giờ chúng tôi thấy nhiều HS không mang SGK, nhiều HS không tích cực, tự lực khi GV yêu cầu tự đọc những kiến thức dễ trong SGK để trả lời câu hỏi và tham gia xây dựng bài. * Tình hình rèn luyện HS kĩ năng HTH kiến thức trong dạy học Sinh học Bảng 1.
Kết quả điều tra tình hình rèn luyện HS kĩ năng HTH kiến thức. Mục đích sử Sử dụng Sử dụng Ít sử dụng Không sử dụng dụng thường xuyên không thường xuyên Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ người % người % người % người % 1.