phần mở đầu, kết luận, kết cấu luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về nâng cao chất lƣợng nguồn y tế tại bệnh viện công lập Chƣơng 2. Thực trạng nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực y tế tại Bệnh viện Chỉnh hình và Phục hồi chức năng Hà Nội. Giải pháp nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực y tế tại Bệnh viện Chỉnh hình và Phục hồi chức năng Hà Nội.
7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN CÔNG LẬP 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực đƣợc nghiên cứu dƣới nhiều góc độ khác nhau do đó có nhiều khái niệm khác nhau: Theo định nghĩa của Liên Hợp quốc: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con ngƣời hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng”. Theo định nghĩa này, nguồn nhân lực đƣợc hiểu khá rộng bao gồm cả những cá nhân có đủ điều kiện nhƣng không tham gia lao động.
Theo tác giả Nguyễn Tiệp, giáo trình Nguồn nhân lực của Trƣờng Đại học Lao động – Xã hội, tái bản lần thứ 2 năm 2018 thì “Nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời, yếu tố quan trọng nhất của tăng trƣởng và phát triển kinh tế, xã hội. Nguồn nhân lực có thể xác định cho một quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phƣơng (tỉnh, thành phố…) và nó khác với các nguồn lực khác (tài chính, đất đai, công nghệ…) ở chỗ nguồn lực con ngƣời với hoạt động sáng tạo, tác động vào thế giới tự nhiên, biến đổi giới tự nhiên và trong quá trình lao động nảy sinh các quan hệ lao động và quan hệ xã hội” [21, tr. Khái niệm này chỉ ra nguồn nhân lực một quốc gia phản ánh các đặc điểm quan trọng nhất là nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời; là bộ phận của dân số, gắn với cung lao động và phản ánh khả năng lao động của một xã hội. Theo tác giả Trần Xuân Cầu, Giáo trình Kinh tế Nguồn nhân lực của trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân (2012) “Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cƣ, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải, vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng 8 nhƣ trong tƣơng lai.
Sức mạnh và khả năng đó đƣợc thể hiện thông qua số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu dân số, nhất là số lƣợng, chất lƣợng con ngƣời có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội” [10, tr6] Nguồn nhân lực đƣợc xem xét, đánh giá theo số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu. Số lƣợng nguồn nhân lực thể hiện quy mô nguồn nhân lực và tốc độ tăng tƣởng nguồn nhân lực hàng năm. Chất lƣợng nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong nguồn nhân lực, đƣợc biểu hiện thông qua thể lực, trí lực, tâm lực, kỹ năng lao động, tinh thần, thái độ, ý thức lao động và phong cách làm việc. Cơ cấu nguồn nhân lực thông qua các tỷ lệ của từng bộ phận nguồn nhân lực đƣợc phân chia theo các tiêu thức chất lƣợng khác nhau trong tổng nguồn nhân lực nhƣ: cơ cấu nguồn nhân lực, theo tuổi, theo giới tính, theo trình độ chuyên môn… Từ những quan điểm trên, có thể rút ra đƣợc khái niệm tổng quát về nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực là bao gồm tất cả các tiềm năng của con ngƣời trong một tổ chức hay một xã hội, tức là tất cả các thành viên của tổ chức vận dụng sức lực, kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển tổ chức của mình.
Trong phạm vi luận văn, nguồn nhân lực y tế trong Bệnh viện đƣợc hiểu là tổng số viên chức và ngƣời lao động là bác sỹ, y sỹ, dƣợc sỹ, điều dƣỡng, kỹ thuật viên y có trong danh sách của Bệnh viện, làm việc bằng thể lực, trí lực, tâm lực của họ và hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ: khám, điều trị cho ngƣời bệnh nhằm nâng cao sức khỏe của ngƣời dân đồng thời duy trì và phát triển bệnh viện của mình. Nguồn nhân lực y tế Y tế là hoạt động chăm sóc sức khỏe, hoạt động chữa bệnh, phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị các loại bệnh, y tế đề cập đến vấn đề sức khỏe cũng nhƣ hoạt động liên quan trong cuộc sống. Theo Báo cáo sức khỏe Tổ 9 chức Y tế Thế giới (WHO), năm 2006: “Cán bộ y tế hay nhân lực y tế là những ngƣời tham gia vào các hoạt động với mục đích chính là tăng cƣờng sức khỏe cộng đồng”. Nguồn nhân lực y tế đƣợc xác định là một thành phần vô cùng quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ y tế có chất lƣợng, hƣớng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân và đạt đƣợc các mục tiêu phát triển bền vững liên quan đến sức khỏe.
Theo tác giả Hoàng Thanh Tùng, Luận văn thạc sĩ kinh tế phát triển “Phát triển nguồn nhân lực ngành y tế tỉnh Quảng Nam”, đặc điểm của nguồn nhân lực y tế: “Là những ngƣời tham gia vào hoạt động chăm sóc sức khỏe và có quan hệ trực tiếp với bệnh nhân; Là những ngƣời có trình độ chuyên môn cao, đạo đức tốt; Thời gian đòa tạo cho nhân viên y tế dài hơn các ngành khác; Kỹ năng của nhân viên y tế phải đƣợc đào tại liên tục; Nhân viên y tế chịu áp lực về thời hian và môi trƣờng làm việc” [22,Tr. Nguồn nhân lực y tế là tổng thể những ngƣời có khả năng lao động với thể lực, trí lực và phẩm chất đạo đức phù hợp với đặc điểm nghề nghiệp trong lĩnh vực y tế, đang và sẽ tham gia vào các hoạt động nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe của nhân dân, cộng đồng. Từ các quan điểm trên, có thể hiểu rằng nguồn nhân lực y tế là tổng hòa thể lực, trí lực và tâm lực tồn tại trong lực lƣợng lao động, đƣợc sử dụng trong các hoạt động mang tính chất chuyên môn, kỹ thuật đặc thù của ngành y tế phục vụ nhu cầu hiện tại và tƣơng lai về chăm sóc, tăng cƣờng sức khỏe của ngƣời dân. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế Theo tác giả Nguyễn Tiệp, Giáo trình Nguồn nhân lực, Trƣờng Đại học Lao động Xã hội (2018): “Chất lƣợng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp về những ngƣời thuộc nguồn nhân lực, đƣợc thể hiện ở các mặt sau đây: sức khỏe; trình độ văn hóa; trình độ chuyên môn kỹ thuật (cấp trình độ đƣợc đào 10 tạo); năng lực thực tế về tri thức, kỹ năng nghề nghiệp (khả năng thực tế về chuyên môn - kỹ thuật); tính năng động xã hội (gồm khả năng sáng tạo, thích ứng, linh hoạt, nhanh nhạy với công việc và xã hội; mức độ sẵn sàng tham gia lao động…); phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ với công việc, môi trƣờng làm việc; hiệu quả hoạt động lao động của nguồn nhân lực; thu nhập mức sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân (nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần) của ngƣời lao động” [21,Tr.9] Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực là chỉ việc thực hiện một loạt một số hoạt động nào đó dẫn đến sự thay đổi về chất lƣợng lƣợng nguồn nhân lực tăng lên so với chất lƣợng nguồn nhân lực hiện có.
Đó là những biểu hiện tăng lên về kiến thức, kỹ năng, thái độ làm việc, thể lực, trí lực, tâm lực của mỗi cá con ngƣời. Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực một mặt tạo ra nguồn nhân lực có khả năng hơn trong quá trình làm việc tạo ra của cải, vật chất cho bản thân, cho tổ chức và tạo ra khả năng cạnh tranh bền vững nhất. Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực là tạo ra tiềm năng của con ngƣời thông qua đào tạo, bồi dƣỡng, tự bồi dƣỡng và đạo tạo lại, chăm sóc sức khỏe về thể lực và tinh thần, khai thác tối đa tiềm năng đó trong các hoạt động lao động thông qua việc tuyển dụng, sử dụng, tạo điều kiện môi trƣờng làm việc (phƣơng tiện lao động có hiệu quả, các chế độ chính sách, đãi ngộ hợp lý….), môi trƣờng văn hóa, xã hội kích thích động cơ, thái độ làm việc của ngƣời lao động, để họ mang hết sức mình hoàn thành các chức trách, nhiệm vụ đƣợc giao, đáp ứng đƣợc yêu cầu ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội. Từ những luận điểm trên có thể hiểu rằng: Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực y tế là việc thực hiện các biện pháp làm gia tăng mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của nguồn nhân lực y tế trên các phƣơng diện: thể lực, trí lực, tâm lực so với yêu cầu công việc cụ thể nhằm thực hiện chức năng, 11 nhiệm vụ chăm sóc, nâng cao chất lƣợng sức khỏe của ngƣời dân và đạt đƣợc mục tiêu chung của Bệnh viện, các cơ sở y tế.
Nội dung nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực y tế 1. Tiêu chí đánh giá chất lượng thể lực - Căn cứ theo độ tuổi, giới tính Số lƣợng NNL theo độ tuổi/giới tính Tỷ lệ NNL theo độ tuổi/ giới tính = x 100 Tổng số NNL - Căn cứ theo sức khỏe (sức khỏe loại I, loại II, tình trạng ốm đau) Số lƣợng NNL có sức khỏe loại i Tỷ lệ có sức khỏe loại i = x 100 Tổng số NNL 1. Phương pháp đánh giá chất lượng thể lực Đánh chất lƣợng thể lực của ngƣời lao động đƣợc căn cứ vào các tiêu chí: tuổi, giới tính, tình trạng sức khỏe và mức độ sức khỏe đáp ứng yêu cầu công việc của ngƣời lao động trong kỳ khảo sát. Các chỉ tiêu từng tiêu chí đƣợc xác định thông qua thống kê của Phòng Tổ chức – Hành chính – Kế hoạch.
Nâng cao chất lượng thể lực Thể lực của nguồn nhân lực đƣợc thể hiện qua trạng thái sức khỏe về thể chất và tinh thần của ngƣời lao động. Theo Tổ chức y tế thế giới WHO: “Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không phải chỉ là không có bệnh hay thƣơng tật” Theo Philippus Paracelsus, nhà vật lý học ngƣời Đức ở thế kỷ XV, ngƣời đƣợc coi là cha đẻ của nền y học hiện đại đã nói rằng tinh thần là ngƣời chủ, trí tƣởng tƣợng, là công cụ và cơ thể, là nguyên liệu mềm dẻo. Thể lực là sự phát triển hài hòa của con ngƣời về sức khỏe cơ thể và tinh thần.