mở đầu. Nhiệm vụ đặt ra cho các nhà quản trị là phải nhận thức về những cơ hội và nguy cơ mà sự thay đổi của năm lực lượng sẽ đem lại, qua đó xây dựng chỉ lược thích ứng. Hơn nữa, đó là khả năng đề một tổ chức, thông qua sự lựa chọn chiến lược, dịch chuyển sức mạnh của một hay nhiều lực lượng cạnh tranh thành lợi thế cho mình. Các nhà quản trị không thể hình thành một hướng dài hạn hay một quyết định chiến lược nếu họ không hiểu biết sâu sắc về tình thế chiến lược của tổ chức, bản chất, các điều kiện cạnh tranh mà nó phải đối mặt, cách thức tạo ra sự phù hợp giữa các nguồn lực và khả năng với những điều kiện đó.
Năm lực lượng cạnh tranh được thể hiện như sau: Nguy cơ của các đối thủ tiém tang Năng Năng lực thương lực thương lượng của lượng của người cung người mua cấp De doa của sản phẩm thay thế Hình 1. lô hình năm lực lượng cạnh tranh 21 «Các đối thủ cạnh tranh tiền tàng: Lực lượng này gồm các tô chức hiện không cạnh tranh trong ngành nhưng họ có khả năng làm điều đó nếu họ muốn. Sức mạnh của lực lượng cạnh tranh từ những đối thủ cạnh tranh tiềm tàng là một hàm số với chiều cao của các rào cản nhập cuộc. rào cản nhập cuộc là các nhân tố gây khó khăn tốn kém cho các đối thủ khi họ muốn thâm nhập ngành, thậm chí họ có thể thâm nhập nhưng sẽ bị đặt vào thế bắt lợi.
“Theo Joe Bain, có ba nguồn rào cản nhập cuộc, đó là: sự trung thành nhãn hiệu, lợi thế chỉ phí tuyệt đối và tính kinh tế quy mô. ® Mức cạnh tranh giữa các đối thủ hiện có trong ngành: Lực lượng thứ hai đó là mức độ ganh đua giữa các tổ chức trong phạm vi một ngành. Bởi vì, các tổ chức trong một ngành cùng lệ thuộc lẫn nhau, các hành động của một tô chức thường kéo theo các hành động đáp trả của các tô chức khác. Sự ganh đua mãnh liệt khi một tổ chức bị thách thức bởi các hành động của tổ chức.
khác hay khi tổ chức nào đó nhận được một cơ hội cải thiện vị thế của nó trên thị trường. Nếu sự ganh đua trong ngành yếu, các tổ chức sẽ có cơ hội tăng giá và nhận được lợi nhuận cao hơn. Nhưng nếu sự ganh đua mạnh, cạnh tranh giá có thể xảy ra một cách mạnh mẽ, điều này sẽ dẫn đến các cuộc chiến tranh giá cả. Cạnh tranh làm hạn chế khả năng sinh lợi do việc giảm lợi nhuận biên trên doanh số.
Vì thế, mức độ ganh đua giữa các tổ chức trong ngành là một hàm số của ba nhân tố chính: cấu trúc cạnh tranh ngành; các điều kiện nhu cầu và rào cản rời khỏi ngành cao. « Năng lực thương lượng của người mua: Người mua của một tổ chức có thể là những khách hàng tiêu dùng cuối cùng sản phẩm của nó, nhưng họ cũng có thể là các tổ chức phân phối sản phẩm, như các nhà bán buôn, bán lẻ. Những người mua được xem như một đe dọa cạnh tranh khi họ ở vị thế yêu cầu giá thấp hơn hoặc khi họ yêu cầu dịch vụ tốt hơn (mà có thể làm tăng chỉ 2 phí. Ngược lại, người mua yếu, tổ chức có thể tăng giá và có lợi nhuận cao.
Người mua có thể ra yêu cầu với tô chức hay không tùy thuộc vào quyền lực tương đối của họ với tổ chức. © Năng lực thương lượng của các nhà cung cấp: Các nhà cung cấp có thể xem như một đe dọa khi họ có thể thúc ép nâng giá hoặc giảm yêu cầu chất lượng đầu vào mà họ cung cấp cho tô chức, điều này sẽ làm giảm khả năng sinh lợi của tổ chức. Ngược lại, nếu nhà cung cấp yếu sẽ khiến tổ chức có cơ hội thúc ép giảm giá và yêu cầu chất lượng cao. Như đối với người mua, khả năng của nhà cung cấp yêu cầu với tổ chức tùy thuộc vào quyền lực tương đối giữa họ và tô chức.
® Các sản phẩm thay thế: Lực lượng cuối cùng trong mô hình của Porter đó là mối đe dọa từ các sản phẩm thay thế. Những sản phẩm thay thế là những sản phẩm của các ngành mà phục vụ những nhu cầu khách hàng tương tự như đối với ngành đang phân tích. Sự tồn tại của các sản phẩm thay thế gần gũi biểu hiện một sự đe dọa cạnh tranh, làm giới hạn khả năng đặt giá cao và do đó giới hạn khả năng sinh lợi của nó. Như vậy: Tính hấp dẫn của môi trường đối với tổ chức phụ thuộc vào mức độ tác động mạnh hay yếu của các yếu tố trong mô hình năm lực lượng cạnh tranh.
Các yếu tố này càng mạnh thì tính hấp dẫn đối với tổ chức càng. nhỏ và ngược lại, mức độ tác động càng nhỏ thì tính hấp dẫn càng lớn. Phân tích bên trong Phân tích bên trong là nhận diện các nguồn lực hiện hữu cũng như tiềm tàng tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp. Đồng thời cho phép.
doanh nghiệp nhận biết các trở ngại trong việc duy trì các lợi thế cạnh tranh bền vững. Phân tích chiến lược hiện tại Môi trường hiện tại của tổ chức được thực hiện thông qua quá trình đánh 23 giá hai nội dung chủ yếu sau: " Chiến lược hiện tại của tô chức được thực hiện như thế nào: Để đánh giá tình hình thực hiện chiến lược hiện tại của tổ chức đạt được ở mức độ nào, nhà quản trị phải bắt đầu từ chiến lược mà tô chức dang theo du. Để đánh giá hiệu suất của doanh nghiệp có thẻ dựa trên các tiêu chí sau: v⁄ Xu hướng doanh số và thị phần; lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận. */ Sức mạnh về tài chính và đánh giá tín nhiệm chung.
Y Né luc hoan thiện và đổi mới. */ Thương hiệu của tô chức. */ Vai trò lãnh đạo. " Các điểm mạnh và điểm yếu của tổ chức: Trên cơ sở đánh giá thực trạng chiến lược, tô chức có thể nhận diện các điểm mạnh và điểm yếu nhằm định hướng cho công tác hoạch định chiến lược của mình trong tương lãi.
Phân tích nguồn lực của tổ chức: Lợi thế cạnh tranh được hiểu như là tổng hợp của các khối chính cải tiến, hiệu quả, chất lượng và đáp ứng khách hàng của nó. Sâu hơn nữa, theo thuyết dựa trên nguồn lực chúng ta tìm đến các hạt nhân để phát triển các khối cạnh tranh, đó chính là các nguồn lực, năng lực và khả năng của tổ chức. "Nguồn lực: Các năng lực cốt lõi sinh ra từ hai nguồn, đó là: các nguồn lực và khả năng tàng của tổ chức. Theo nghĩa rộng nguồn lực bao gồm một loạt các yếu tố tô chức, kỹ thuật, nhân sự, vật chất, tài chính,.
của tổ chức. Các nguồn lực có thể chia thành hai loại: Nguồn lực hữu hình và nguồn lực vô hình. v/ Nguồn lực hữu hình: là nguồn lực có thể thấy được và định lượng được như: nguồn lực tài chính, tổ chức, các điều kiện vật chất và công nghệ. v⁄ Nguồn lực vô hình bao gồm: nhân sự, khả năng cải tiến và danh tiếng.
Trong việc tạo ra các năng lực cốt lõi, so với các nguồn hữu hình, các 24 nguồn vô hình là nguồn có tác dụng hữu hiệu và nỗi trội hơn. chứng cho thấy tỷ trọng các nguồn vô hình đang có khuynh hướng tăng lên rất nhanh và chiếm ưu thế so với các nguồn hữu hình. Trong hệ thống các nguồn lực bên trong của tô chức như: năng lực tài chính, nhân sự, cơ sở vật chất, khả năng điều hành, cơ cấu tổ chức, quy mô, nguồn danh tiếng của tô chức. Toàn bộ các nhân tố đó tạo ra nguồn sức mạnh từ bên trong của tô chức, giúp tổ chức đạt được các mục tiêu mong.
muốn của mình. Tuy nhiên tắt cả các yếu tố nguồn lực bên trong tự bản thân nó không phát huy năng lực cho tổ chức mà phải được tổ chức sử dụng các nguồn lực đó lại với nhau và được xem là khả năng tiềm tàng của tô chức. " Các khả năng tiềm tàng: Khả năng tiềm tàng là khả năng tổ chức sử dụng các nguồn lực đã được tích hợp một cách có mục dich dé đạt được mục tiêu mong muốn. Như là sự liên kết chặt chẽ tổ chức lại với nhau, các khả năng sản sinh theo thời gian thông qua những tương tác giữa nguồn lực vô hình và nguồn lực hữu hình.
Một tổ chức có thể có các nguồn lực đáng giá nhưng nếu không có khả năng tiềm tàng để sử dụng các nguồn lực đó một cách hiệu quả thì vẫn không thẻ tạo ra sự khác biệt. Các khả năng tiềm tàng của tổ chức là sản phẩm của các cấu trúc tô chức và hệ thống kiểm soát. Chúng xác định các quyết định được làm bằng cách nào và ở đâu trong tổ chức, các hành vi tưởng tượng, các giá trị và chuẩn mực văn hóa của tô chức. Như vậy, Với một tổ chức để có năng lực khác biệt, nó phải có tối thiểu.
một nguồn lực độc đáo đáng giá và các khả năng tiềm tàng cần thiếtkhai thác nguồn lực đó, hoặc một năng lực độc đáo đề quản trị các nguồn lực chung. Năng lực tạo ra sự khác biệt của tô chức là mạnh nhất khi nó sở hữu cả các nguồn lực độc đáo và đáng giá cùng với năng lực quản trị các nguồn lực đó. Xác định năng lực cốt lõi Năng lực cốt lõi là các nguồn lực và khả năng của tổ chức được sử dụng. như nguồn để tạo ra lợi thế cạnh tranh.
Năng lực cốt lõi làm cho tổ chức có tính cạnh tranh và có tiềm năng sử dụng như một nguồn lợi thế cạnh tranh và phẩm chất riêng của nó. Năng lực cốt lõi phát sinh theo thời gian thông qua quá trình học tập, tích lũy của tổ chức về cách khai thác các nguồn lực va kha năng khác nhau. Để thành công, các tổ chức phải hướng tới các cơ hội của môi trường sao cho khả năng của nó có thể khai thác được, tránh phải đương đầu với những lĩnh vực mà nó có điểm yếu. > Tạo dựng các năng lực cốt lõi: Có hai công cụ giúp các tô chức nhận diện và tạo dựng các các năng lực cối v Công cụ thứ nhất: Bao gồm bốn tiêu chuẩn cụ thê của lợi thế cạnh tranh bền vững mà tổ chức có thể sử dụng để xác định các nguồn lực và khả năng có tiềm năng trở thành các năng lực cót lõi hay không.
Y Công cụ thứ hai: Là phân tích chuỗi giá trị.