Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về VHDN Chương 2: Phương pháp thiết kế và nghiên cứu Chương 3: Thực trạng VHDN của Tập đoàn Sunshine Group Chương 4: Một số đề xuất và kiến nghị nhằm hoàn thiện VHDN của Tập đoàn Sunshine Group CHUONG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE VAN HÓA DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Vai trò của văn hóa doanh nghiệp (VHDN) từ lâu đã được xem là một trong những giải pháp tối ưu giúp nâng cao hiệu quả làm việc của doanh nghiệp mà còn giúp doanh nghiệp trở nên cạnh tranh hơn trên thị trường. VHDN đóng vai trò là nguồn động lực và tài sản vô hình của doanh nghiệp trong việc tạo đà phát triển bền vững, kết nối nhân viên trong tô chức, đồng thời tạo ra sự đồng nhất trong tư tưởng cũng như hành động giúp doanh nghiệp có những định hướng rõ rang trong tương lai. Bản sắc VHDN giúp doanh nghiệp tạo ra nét khác biệt so với các đối thủ khác trên thị trường. Cũng như các loại văn hóa khác, VHDN được truyền từ thế hệ nay qua thế hệ khác trở thành một bệ phóng cho sự phát triển của doanh nghiệp.
Bản chất của văn hóa là sự sáng tạo, sự phát trién VHDN do vậy giúp khuyến khích sự tiến bộ, khuyến khích cái mới. Thực chất, VHDN đã thu hút sự chú ý và quan tâm của rất nhiều nhà khoa học trên thế giới, đặc biệt là tại các quốc gia phát triển. Đã có rất nhiều nghiên cứu về VHDN được thực hiện theo đó VHDN thể hiện thương hiệu của doanh nghiệp. Tuy VHDN ở Việt Nam chỉ mới được chú ý gần đây nhưng những công trình nghiên cứu về VHDN ở Việt Nam cũng khá được đầu tư.
Rất nhiều nhà khoa học đã thực hiện các nghiên cứu về VHDN nhằm nghiên cứu về cả lý thuyết về khái niệm này cũng như thực trạng áp dụng VHDN tai các doanh nghiệp Việt Nam hướng tới giải pháp phát trién VHDN tại nước ta. VHDN cũng được đưa vào nghiên cứu giảng dạy tại nhiều trường đại học trong nước chứng tỏ tầm quan trọng của nó trong cả lý luận và thực tiễn tại Việt Nam. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Một trong những tác phẩm nồi bật về VHDN trên thế giới có thé kế đến cuốn Culture and Organizations của Geert Hofstede-Gert Jan Hofstede- Michael Minkov (2010) xuất bản bởi NXB McGraw-hill. Cuốn sách này tập trung nghiên cứu văn hóa quốc gia của hơn 70 nước trên thế giới trong thời gian 40 năm.
Trong cuốn sách, các tác giả tập trung mô tả những đặc điểm văn hóa quốc gia, những mặt tiêu cực và tích cực của văn hóa quốc gia, lịch sử hình thành cũng như những ảnh hưởng của văn hóa dân tộc lên văn hóa tô chức. Viết về VHDN, trong cuốn Văn hóa doanh nghiệp va sự lãnh dao viết bởi Edgar H. Schein (2012), tác giả đã xét đến văn hóa dưới hình dạng văn hóa tô chức theo đó các đặc điểm và loại hình của văn hóa tô chức được thảo luận kĩ càng trong khi vai trò của người lãnh đạo trong việc xây dựng, khuyến khích và sáng tạo văn hóa tổ chức được nhấn mạnh. Trong cuốn sách nay, tác giả chỉ ra tam quan trọng của lãnh đạo trong việc thay đôi VHDN.
Ở diễn dan văn hóa doanh nghiệp Trung Quốc — ASEAN (2010) do Vụ văn hóa doanh nghiệp, Cục liên lạc văn hóa đối ngoại thuộc Bộ văn hóa Trung Quốc và Sở văn hóa khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây cùng đứng ra tô chức sẽ diễn ra từ ngày 28-31/10/2010 tại thành phố Nam Ninh. Diễn đàn lần này có chủ dé là “Học hỏi lẫn nhau và hợp tác cùng có lợi”. Dé hiểu sâu hơn về chủ đề, diễn đàn còn tô chức 4 cuộc hội thảo với các chủ đề “Hợp tác và học hỏi lẫn nhau trong phát triển văn hóa doanh nghiệp Trung Quốc — ASEAN”, “Xây dựng và thúc đây môi trường giao lưu hợp tác mới về văn hóa doanh nghiệp Trung Quốc — ASEAN”, “Tác dụng của văn hóa doanh nghiệp trong việc thiết lập và xây dựng khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc — ASEAN?” và “ Vai trò của việc hợp tác, giao lưu trong diễn đàn văn hóa doanh nghiệp Trung Quốc — ASEAN” càng làm cho chủ dé của diễn đàn có thêm tính sâu rộng. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam VHDN cũng thu hút sự quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu va các doanh nghiệp tại Việt Nam, đặc biệt là từ sau khi Việt Nam bước vao thời kỳ đôi mới hội nhập đến nay.
Đỗ Minh Cương (2011) -“Nhân cách doanh nhân và văn hóa kinh doanh Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010”; “Đổi mới văn hóa lãnh đạo, quản lý: lý luận và thực tiễn, NXB Lao động, Hà Nội”. Đây là những công trình trình bày có hệ thống trên cả lý luận và thực tiễn về các vẫn đề văn hóa kinh doanh, văn hoá doanh nhân, VHDN của thế giới và Việt Nam. Tuy nhiên, các tác phẩm này chủ yếu tập trung nghiên cứu sâu vào các van đề triết lý kinh doanh thay vi đi vào thực tế thực hành tại Việt Nam. Trong nghiên cứu về VHDN của Nguyễn Mạnh Quân (2012) mang tên Giáo trình Đạo đức Kinh doanh và Văn hóa Công ty (Tái bản lần thứ nhất, có sửa đối bố sung) NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, khái niệm VHDN - bản sắc của doanh nghiệp được thé hiện ở các triết lý đạo đức trong kinh doanh cũng như trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội.
Nghiên cứu “Tĩnh thân doanh nghiệp — Giá trị định hướng của Văn hoá Kinh doanh Việt Nam” của tac giả Trần Quốc Dân cũng đóng góp vào các nghiên cứu về VHDN tại Việt Nam. Trong nghiên cứu này, một số vấn đề cơ bản liên quan đến giá trị định hướng của văn hoá kinh doanh và tinh than doanh nghiệp đã được hệ thống lại, nhẫn mạnh tinh cấp thiết và vai trò của việc phát triển VHDN trong thời kì công nghiệp hoá-hiện đại hoá của Việt Nam. Những lý luận từ nghiên cứu này giúp các tác giả chỉ ra thực trangh của việc khơi dậy và phát huy tinh thần doanh nghiệp của Việt Nam từ thời kỳ phong kiến đến nén kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. VHDN cũng được đề cập đến trong cuốn giáo trình Văn hóa kinh doanh viết bởi Dương Thị Liễu (chủ biên 2012), Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân.
Trong cuốn giáo trình này, khái niệm VHDN được xây dựng và thao luận trên cơ sở nghiên cứu các tác phẩm uy tín của các nhà khoa học trong và ngoài nước. Thông qua nghiên cứu thực tiễn cũng như lý thuyết, những ví dụ thất bại và thành công của tổ chức trong và ngoài nước trong việc xây dựng VHDN, cuốn sách giúp đưa ra những bài học và tổng kết những kĩ năng thiết yếu dé phát triển VHDN thực tiễn trên thị trường Việt Nam. Trong cuốn “Đạo đức kinh doanh và VHDN” - NXB Thông tin và truyền thông, Bùi Xuân Phong (2006) đã giúp định nghĩa về VHDN cũng như xác định các yếu tô ảnh hưởng đến VHDN từ đó nêu ra các bước để phát triển VHDN trong các tổ chức. Các nghiên cứu của các tác giả Việt Nam về VHDN đều cho thấy tam quan trọng cấp thiết của việc xây dựng một nền VHDN vững mạnh, coi đó là một trong những nhân tố thiết yếu dé gia tăng sức cạnh tranh va đóng góp cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp trong nên kinh tế thị trường.
Tuy vậy, vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về xây dựng và phát triển VHDN tại các doanh nghiệp trong ngành bất động sản, đặc biệt là ở quy mô tập đoàn tại Việt Nam dé đưa ram ô hình phát triển và quy trình triển khai phù hợp với tiềm năng và thế mạnh của doanh nghiệp Việt Nam.2 Khai niệm, các nét đặc trưng và vai trò của Văn hóa Khái niệm văn hóa từ lâu đã là một khái niệm rộng bao quát bao gồm nhiều loại chủ thể, đối tượng, hình thức biéu hiện và tinh chất khác nhau. Định nghĩa về văn hóa, do vậy, cũng có rất nhiều giúp các nhà nghiên cứu có một cái nhìn phong phú và toàn diện hơn. Trong cuốn “Văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh” tác giả Đỗ Minh Cương (2001) đã tổng kết lại các định nghĩa phổ biến về văn hóa như sau: Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chat, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội va nó chứa đựng, ngoài văn học nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sông, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”. Herriot: “Văn hóa là cái còn lại sau khi người ta quên đi tất cả, là cái vẫn còn thiếu sau khi người ta đã hoc tất cả”.
Văn hóa có thé được hiểu là “Văn hóa là nguồn lực nội sinh của con người, là kiểu sống và bang giá trị của các tổ chức, cộng đồng người, trung tâm là các giá trị chân - thiện - mỹ”. Văn hóa được xem là một chức năng quan trọng của quản lý tông thê tạo thành những yếu tố cần thiết đề tạo thành quản lý đúng và tốt, giúp chuẩn hóa mô hình quản lý và nâng cao năng suất lao động của doanh nghiệp (Fredmund Malik, 2021). Nhìn nhận từ một góc độ khác, Bùi Xuân Phong (2009) cho rằng: “Văn hóa là toàn bộ những hoạt động vật chất và tinh thần mà loai người đã sáng tạo ra trong lịch sử của mình trong quan hệ với con người, với tự nhiên và với xã hội, được đúc kết lại thành hệ giá trị và chuân mực xã hội. Nói tới văn hóa là nói tới con người, nói tới việc phát huy những năng lực bản chất của con nguoi, nhăm hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội.
Có thể nói văn hóa là tất cả những gì gắn liền với con người, ý thức con người để rồi lại trở về với chính nó”. Cùng với đạo đức kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp được đánh giá là một trong hai yếu tô cốt lõi quyết định sự phát triển bền vững và 6n định cho cả doanh nghiệp (Hoàng Văn Hải và Đặng Thị Hương, 2022). Văn hóa doanh nghiệp được coi là tài sản tinh than, là “phần hồn” giúp tạo dựng thương hiệu, bản sắc, nâng cao tính cạnh tranh, thúc day sự tăng trưởng của doanh nghiệp vì mục tiêu phát triển bền vững.