Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận về văn hóa doanh nghiệp. Chương 2: Quy trình và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Phân tích thực trạng văn hóa doanh nghiệp tại Agribank CN Hà Nội I Chương 4: Định hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao văn hóa doanh nghiệp tại Agribank CN Hà Nội I CHUONG 1. TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VA CO SO LY LUAN VE VAN HOA DOANH NGHIEP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.
Tình hình nghiên cứu nước ngoài VHDN đóng vai trò trọng yếu đối với phát triển kinh doanh và định hình tổ chức nói chung. Theo nghiên cứu của Tacconelli và Wrigley (2009) nhận thấy rằng để đạt được tính hợp pháp của tổ chức, các Ngân hàng xuyên quốc gia chuyên mảng bán lẻ hoạt động ở cấp quốc gia, khu vực, thành phố và khu vực lân cận phải hòa nhập vào văn hóa hậu cần, bat động sản và tiêu dùng của Trung Quốc. Một nghiên cứu khác của Eric GŒ. Flamholtz và Yvonne Randle (2014) cho rằng văn hóa và môi trường của các tô chức tác động đến vòng đời của tổ chức đó và ngược lại.
Nghiên cứu cũng định nghĩa VHDNIA các giá trị,niềm tin và chuẩn mực hành vi đặc trưng cho tô chức được truyền đi bởi kinh nghiệm xã hội hóa của người mới, các quyết định của ban điều hành cũng như những câu chuyện và huyền thoại ma mọi người ké đi ké lại về tổ chức của họ. Như vậy, VHDN tác động sâu sắc đến tổ chức va ngược lại, tổ chức hình thành nên VHDN. Dé có thé tồn tại va phát triển, các doanh nghiệp phải xây dựng được VHDN phù hợp và có phương an đảm bảo « văn hóa doanh nghiệp » mình phù hợp với văn hóa chung của ngành nghề, khu vực, quốc gia nơi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh. Trong nghiên cứu của Kathryn Lofton (2017, trang 220 - 242) dựa trên lập luận cuộc khủng hoảng tài chính ngân hàng năm 2008 là kết quả của « vấn đề văn hóa », nghiên cứu nguồn gốc nhân chủng học và chuân đoán những ảnh hưởng dai dang “văn hóa” trong đời sống doanh nghiệp Hoa Kỳ.
Trong quá khứ, Jacques Crémer (1993) cho rằng VHDN nói lên « tính cách » của doanh nghiệp và trên thực tế các nét «tính cách » khá 6n định theo thời gian và độc lập với các thành viên thực tế của họ. Nghiên cứu cũng giải thích tại sao VHDN là một yếu tố hiệu quả trong việc « xử lý thông tin nội bộ » trong tô chức. Kết luận này dựa trên khung lý thuyết văn hóa được định nghĩa là « kho kiến thức được chia sẻ bởi các thành viên của tổ chức ». Như vậy, VHDN có ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp và là giá trị cốt lõi trong vận hành doanh nghiệp, có tính bền vững theo thời gian, được chia sẻ và truyền tải bởi mỗi cá nhân trong doanh nghiệp giữ bat kì vị trí nào.
VHDN có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sự thất bại hay thành công của doanh nghiệp thông qua xác định xu hướng phát triển của doanh nghiệp. VHDN tạo sự kết nối giữa các thành viên với nhau, thông qua chia sẻ kinh nghiệm và thông tin, hướng đến giá trị chung của doanh nghiệp. Sự thay đôi công nghệ hiện đại cũng có những tác động tích cực hoặc tiêu cực nhất định đến VHDN. Nghiên cứu của Russell Walker (2015) nghiên cứu các tác động của phân tích dữ liệu và bigdata lên VHDN và tuyên dung, vai trò cũng như ưunhược điểm của phân tích dữ liệu và bigdata lên VHDN.
Andrew Davis và Sarah Hart (2021) cho rằng các doanh nghiệp cần có phương pháp duy trì VHDN của mình trong thời đại thay đổi nhanh chóng của thế giới. Davis và Hart đã nghiên cứu thành công của Ngân hang Fujitsu trong duy trì VHDN tích cực, thể hiện bản chất lấy con người làm trung tâm của mình bằng cách đặt con người vào trung tâm của tat cả, dé đối phó với thời gian đóng cửa dan cách của đại dịch COVID-19. Một cách tông quan, trong quá trình phát triển hòa nhập thé giới mới, các doanh nghiệp cũng cần quan tâm giữ gìn nét văn hóa truyền thống, cái đã tạo nên thành công của doanh nghiệp trong quá trình duy trì và phát triển. Phát triển VHDN trong thời đại mới nhưng không mất đi nét tích cực vốn có trong nét « văn hóa doanh nghiệp » mình là điều cốt lõi trong nâng cao VHDN.
Khoản 2 và khoản 3 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010 định nghĩa: « Ngân hang là loại hình tổ chức tin dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hang theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã. Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận ». VHDN là có thé xem là linh hồn của một tô chức hay doanh nghiệp.
Trong kỷ nguyên công nghệ số, việc xây dựng VHDN phù hợp với thời đại mới là điều cần thiết với tất cả các doanh nghiệp nói chung, đặc biêt là ngành ngân hàng. Ngày 28/6/2022, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Quyết định số 1097/QD-NHNN Kế hoạch chuyển đổi số năm 2022, ngân hàng được xem là đầu tàu trong chiến lược số hóa hệ thống dé bắt kịp với sự phát triển của kinh tế thế giới mới. Do đặc thù ngành nghề, kênh ngân hàng được Chính phủ sử dụng trong áp dụng các « chính sách tài khóa » để 6n định tình hình kinh tế xã hội thông qua điều chỉnh lãi suất ngân hàng. Do đó, VHDN của ngân hàng có những nét khác biệt đặc sắc so với các tô chức kinh doanh khác.
Jens Hagendorff (2019) đề cập đến sự khác biệt của « văn hóa ngân hàng » so với các định chế phi tài chính, do chịu sự tác động của các chính sách quản tri của ngân hàng. Zhaohui Chen, Alan D. (2013) nghiên cứu những thay đổi của công nghệ đến VHDN trong ngân hàng. Nghiên cứu cho thấy trong những năm gần đây, các ngân hàng ưu tiên tuyển dụng những cá nhân tài giỏi liên quan đến giả thiết chưa được chứng minh là tài năng của nhân viên có những tác động tích cực đến chất lượng phục vụ khách hàng của họ.
Nghiên cứu vận dụng trên lý thuyết « tài sản duy nhất của ngân hàng là danh tiếng của họ », và các cá nhân tài giỏi của ngân hàng có sự xung đột về danh tiếng cá nhân và danh tiếng của tổ chức, góp phần tạo nên nền văn hóa « ngôi sao » phát triển trong VHDN tại ngân hàng. Tuy nhiên, nghiên cứu của Shankha Chakraborty, Jon C. Yehoue (2015) lập luận rằng không có lý do « tiên đoán » nao dé tin rằng văn hóa là một yếu tố quan trọngđối vớiphát triển lâu dài. Điều này không có nghĩa là văn hóa không có ảnh hưởng gì đến sự phát triển kinh tế lâu dài hay việc tìm ra các ảnh hưởng của « văn hóa doanh nghiệp » đến sự phát triển kinh tế là không quan trọng.
Tuy nhiên, VHDN đóng vai trò thứ yếu sau những hạn chế về kinh tế và chính trị trong tính toán năng suất ở những quốc gia nghèo hơn. Như vậy, sự phát triển của các yêu tố như kinh tế, xã hội haycông nghệ. có ảnh hưởng đến VHDN và ngược lại. Tuy nhiên, đối với các quốc gia kém phát triển, VHDN ít có ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển kinh tế.
Dẫu vậy, ảnh hưởng của VHDN là cần xem xét đến. Trong một nghiên cứu của James Stent (2016) về « Vấn đề văn hóa » đã chi ra rang văn hóa của Trung Quốc đã thắm nhuan và tạo nên tác động mạnh mẽ đến VHDN của các tô chức kinh tế, trong đó có ngân hàng. Bối cảnh văn hóa mà các ngân hàng Trung Quốc tham gia vào trái ngược hăn với bối cảnh văn hóa của Mỹ, trong đó các ngân hàng tư bản thị trường Mỹ được hình thành và phát triển. Việc Trung Quốc tìm kiếm sự kết hợp phù hợp giữa các phương pháp hiện đại và tinh hoa văn hóa truyền thống để trả lại “sự giàu có và quyền lực” cho đất nước đã tác động trực tiếp đến sự phát trién của hệ thống ngân hang của Trung Quốc ngày nay.
Mobley, Lena Wang & Kate Fang (2010) đã áp dụng mô hình của Denison dé nghiên cứu VHDN, từ đó xác định « văn hóa doanh nghiệp » của Trung Quốc. Nghiên cứu kết luận « việc xác định mô hình văn hoá doanh nghiệp chính là một trong những công cụ quan trọng mang tầm chiến lược, nhất là khi Ngân hàng đang tiếp tục phát triển những thế mạnh cạnh tranh của mình ». Như vậy, có thể thấy các chính sách của Chính phủ về định hướng phát triển kinh tế và nền móng chính trị của quốc gia, cùng với quá trình phát triển và bảo tồn nền văn hóa lâu đời của họ có ảnh hưởng đến VHDN của từng doanh nghiệp, trong đó có các ngân hàng. Tình hình nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam, ngày 03/06/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 749/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình “Chuyên đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.
Ngày 11/05/2021, Thống đốc NHNN đã có Quyết định 810/QĐ-NHNN thành lập Ban chỉ đạo và Té công tác Chuyển đổi số ngành Ngân hàng. Có thể thấy, Chính phủ Việt Nam đang thi hành nhiều chính sách chuyền đổi tích cực dé vận hành kinh tế đất nước phát triển có thé bắt kịp với sự phát triển của kinh tế « thế giới mới » trong thời đại « kỷ nguyên số ». Các chính sách này ngoài ảnh hưởng đến sự thay đổi cách kinh tế phát triển còn ảnh hưởng đến « văn hóa doanh nghiệp » của các tổ chức, Ngân hàng, trong đó có các ngân hàng. Do đó, các ngân hàng phải có chiến lược định hướng phát trién VHDN phù hợp đồng thời bảo tồn các giá trị văn hóa làm nên « thương hiệu riêng » của ngân hàng mình.
Nghiên cứu của Phan Thị Hời (2022) đã đưa ra kết luận VHDN là yếu tố hỗ trợ nâng cao khả năng cạnh tranh, thích nghi và hội nhập với « văn hóa quốc tế ». Nghiên cứu cũng đưa ra định hướng việc phát triển « văn hóa doanh nghiệp » phải phù hop với thực trạng, tình hình kinh doanh cũng như định hướng phát triển của doanh nghiệp.