chương I cùng với phân tích hoạt động truyền thông marketing tích hợp thương hiệu Vinfast ở chương II, chương này đánh giá kết quả đạt được, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của hoạt động truyền thông marketing tích hợp cho thương hiệu Vinfast. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu 1. Tài liệu nước ngoài - Các cuốn sách của Philips Kotler: Marketing Management (Tái bản nim 2014); Kotler on Marketing; Marketing 4. - Advertising, Promotion, and other aspects of Integrated Marketing Communications của hai tác giaJ.
Craig Andrewsva Terence A. - The IMC Case Book: Cases in Integrated Marketing Communications, Second Edition của Susan K. Tài liệu trong nước - Các bài viết “Thương hiệu và Định vị thương hiệu” trên trang Brandsvietnam. - Gido trinh TRUYEN THONG MARKETING TICH HỢP (IMC) của Trường Đại học Kinh tế quốc dân (Chủ biên: PGS, TS Trương Dinh Chiến); - “PR lý luận và ứng dụng” xuất bản năm 2008 của Dinh Thi Thuý Hằng, - “Thiết é va quan lý truyền thông marketing” - Nguyễn Văn Dung (2009).
- Xu hướng Marketing tắt yếu trong thời đại 4. CHUONG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN VE TRUYEN THONG MARKETING TiCH HOP VA THUONG HIEU 1. KHAI QUAT VE THUONG HIEU 1. Khái niệm thương hiệu: Có rất nhiều cách khác nhau để định nghĩa về thương hiệu.
Về cơ bản, thương là thương mại, hiệu là đấu hiệu nhận biết, vì vậy, thương hiệu là những. dấu hiệu thương mại giúp phân biệt giữa doanh nghiệp nảy với doanh nghiệp khác, giữa sản phẩm này với sản phẩm khác. Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ, thương hiệu được định nghĩa là “một cái tên, một từ ngữ, một dấu hiệu, một biểu tượng, một hình vẽ hay tông thể các yếu kẻ trên nhằm xác định một sản phẩm hay một dịch vụ của một hay một nhóm sản phẩm hay dich vu của một hay một nhóm người bán và phân biệt các sản phẩm, dịch vụ đó với các đối thú cạnh tranh ”.[I] Theo tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WPO): “Thương hiệu là một đấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt đề nhận biết một sản phẩm hàng hoá hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức. Đối với doanh nghiệp, thương hiệu là khái niệm trong người tiêu dùng về sản phẩm, dịch vụ với đấu hiệu của doanh nghiệp gắn lên bề mặt sản phẩm dịch vụ nhằm khẳng định chất lượng và xuất xứ.
Thương hiệu là một tài sản vô hình quan trọng và đối với các doanh nghiệp lớn, giá trị thương hiệu của doanh nghiệp chiếm lấy một phần đáng kẻ trong tổng giá trị doanh nghiệp ". [2] Hiện nay, thương hiệu được xem là một đặc tính chiến lược của một sản phẩm hoặc một công ty, do đó, thương hiệu mang lại các giá trị, lợi ích và lời hứa mà người tiêu dùng có thể cảm nhận được đề từ đó quyết định mua hàng. Thương hiệu không chi là một cái tên hay biểu tượng (những khía cạnh về mặt hữu hình) mà còn là các yếu tố bao trùm lên sản phẩm với nhiệm vụ thoả mãn các nhu cầu chức năng và tâm lý của khách hàng. Sản phẩm chỉ tồn tại trong một vòng đời cụ thể còn thương hiệu có thể gắn với một chuỗi các sản phẩm nói tiếp nhau, có khả năng tồn tại lâu hơn.
Các yếu tố cấu thành thương hiệu: Các yếu tố cấu thành nên thương hiệu gồm hai phần: phần đọc được và phần không đọc được: Phần đọc được có thể tác động vào thính giác của người nghe như tên công ty, tên sản phẩm, câu khẩu hiệu đặc trưng, đoạn nhạc. và các yếu tố phát âm khác. Phần không đọc được thì chỉ có thể cảm nhận được bằng thị giác như hình vẽ, biểu tượng, màu sắc, kiểu dáng thiết kế, bao bì, các yếu tố nhận biết bằng. Có thể nói, thương hiệu là hình thức thể hiện cái bên ngoài, tạo ấn tượng cho sản pham và doanh nghiệp, tạo ra nhận thức và niềm tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung ứng.
Thương hiệu là tài sản vô hình của doanh nghiệp. Định vị thương hiệu a. Khái niệm: Theo định nghĩa của giáo sư Mare Filser thì “Định vị hương hiệu là nỗ lực đem lại cho sản phẩm một hình ảnh riêng, dễ đi vào nhận thức của khách hàng. Hay cụ thể hơn, là điều mà doanh nghiệp muốn khách hàng liên tưởng tới mỗi khi đối điện với thương hiệu của mình ”.
[3] Nói cách khác, định vị thương hiệu chính là quá trình định vị trong tâm trí khách hàng. Đó không chỉ đơn giản là hình ảnh logo bắt mắt hay khẩu hiệu dễ nghe dễ nhớ mà nó còn là chiến lược được sử dụng để làm nỗi bật doanh nghiệp. Quá trình định vị thương hiệu: Để định vị thương hiệu, doanh nghiệp nên có chiến lược chuyên sâu, chỉ tiết về thương hiệu, khám phá những điểm mạnh của doanh nghiệp và phải lập ra quá trình định vị thương hiệu như sau: Thứ nhất, xác định vị trí thương hiệu hiện tại: Gần như khởi nghiệp kinh doanh, để có một thương hiệu tốt, doanh nghiệp phải chuẩn đầy đủ, cụ thể. Và để bắt \u chiến lược, doanh nghiệp phải liệt kê những đặc điểm thương hiệu và xác định được vị trí thương hiệu hiện tại của doanh nghiệp.
Thứ hai, xác định và phân tích đối thủ cạnh tranh: Sau khi đã phân tích chính bản thân doanh nghiệp thì bước tiếp theo là phân tích đối thủ cạnh tranh. Cần phải nghiên cứu đối thủ có những điểm mạnh và điểm yếu nào? Điều đó sẽ giúp doanh nghiệp quyết định những gì nên làm và sẽ làm tốt hơn đối thủ đề có nhiều lợi thế hơn trong kinh doanh. Có rất nhiều phương pháp để nghiên cứu, phân tích đối thủ như: Nghiên cứu thị trường; Sử dụng phản hồi của khách hàng: Sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội. Thứ ba, xác định điều gì làm cho thương hiệu của doanh nghiệp trở nên độc đáo, từ đó xây dựng hình ảnh thương hiệu để làm cho doanh nghiệp khác biệt và biết được điều gì tốt nhất cho chính doanh nghiệp.
Sau khi nghiên cứu đối thủ, có thể ấy doanh nghiệp nào cũng sẽ có điểm mạnh, điểm yếu. Và doanh nghiệp có thể biến những điểm yếu điểm của đối thủ thành điểm mạnh, điểm độc đáo của mình. Đây là điểm khởi đầu hoàn hảo để định vị thương hiệu trên thị trường. tuyên bố định vị thương hiệu: Sau khi thực hiện các bước trên thì tiếp theo là tạo một tuyên bố định vị thương hiệu của doanh nghiệp.
Không đơn giản như khẩu hiệu quảng cáo, tuyên ngôn định vị thương hiệu của doanh nghiệp nên sử dụng nội bộ. Tuyên ngôn định vị thương hiệu nên ngắn gọn và phải trả lời được 4 câu hỏi: Sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp là gì? Khách hàng mục tiêu của doanh nghiệp là ai? Lợi ích lớn nhất của sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp là gì? Bằng chứng về lợi ích đó? Thứ năm. triển khai hoạt động tuyên bố định vị: Khi đã hoàn thành việc. tạo ra một định vị thương hiệu, bước cuối cùng là đưa vào sử dụng.
Các cấp độ định vị thương hiệu Chiến lược định vị thương hiệu phù hợp sẽ giúp thương hiệu tạo ra giá trị và sự khác biệt được khắc sâu trong suy nghĩ của khách hàng. Từ đó, thương hiệu sẽ xây dựng được vị trí nhất định so với các đối thủ trong ngành. Một thương hiệu tốt phải được định vị rõ ràng trong nhận thức của đối tượng. khách hàng mục tiêu.
Để có thể làm được điều đó, doanh nghiệp phải xây dựng được một chiến lược định vị thương hiệu dựa trên ba cấp độ theo mức. độ quan trọng tăng dần: Thứ nhất là thuộc tính của sản phẩm; Thứ hai là lợi ích mà thương hiệu đó mang lại cho khách hàng: Thứ ba là niềm tin của khách hàng vào giá trị của thương hiệu. Định vị thương hiệu phải truyền tải được sứ mệnh của thương hiệu, từ đó xây dựng tầm nhìn chiến lược về những gì mà thương hiệu cần phải làm. Vậy nên, ba cấp độ định vị thương hiệu kẻ trên sẽ giúp hoạch định được từng bước đi cho một chiến lược định vị thương hiệu.
TONG QUAN VE TRUYEN THONG MARKETING 1. Tổng quan về truyền thông: a. Khái niệm: Khái niệm truyền thông được định nghĩa theo rất nhiều cách khác nhau. Theo định nghĩa gốc của “truyền thông” (từ Latin:icomminicãre — chia sẻ): “Truyễn thông là hoạt động truyền đạt thông tin thông qua trao đổi ý tưởng, cảm xúc, ý định, thái độ, mong đợi, nhận thức hoặc các lệnh, như ngôn ngữ, cứ chỉ phi ngôn ngữ, chữ viết, hành vi và có thể bằng các phương tiện khác 10 như thông qua điện từ, hóa chất, hiện tượng vật lý và mùi vị”.
[4] Cuốn “Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản” có viết: “?ruyển thông là quá trình liên tục trao đổi thông tỉn, tư tưởng, tình cảm,. chia sẻ kinh nghiệm, kĩ năng giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đối nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm, của cộng đông và xã hội ”. [5] Tóm lại, truyền thông có thẻ được hiểu là kiểu hình thức tương tác xã hội trong đó có ít nhất hai tác nhân tương tác với nhau, trao đổi thông tin và tín hiệu chung. Truyền thông hầu như tác động đến mọi mặt của đời sống, moi đối tượng, có tính định hướng cao và lan toả mạnh mẽ trong cộng đồng.
Truyền thông còn được xem là công cụ hữu hiệu đề truyền đi thông điệp và định hướng, qua đó con người kết nối với nhau nhiều hơn, thông tin được lan truyền mạnh mẽ hơn. Vai trò của truyền thông: Truyền thông là một trong bốn phương tiện marketing chính (sản phẩm, giá, phân phối, truyền thông) được phối hợp sử dụng trong chiến lược marketing hỗn hợp nhằm đạt được mục tiêu marketing. Việc phối hợp bốn yếu tố này có tác động làm thay đôi sức cầu thị trường về sản phẩm theo hướng có lợi cho kinh doanh. Vai trỏ của truyền thông không những là thông báo, thuyết phục, đáp ứng nhu cầu khách hàng, mà còn khuyến khích thị trường tiêu thụ sản phẩm và quảng bá, bảo vệ thị phần của doanh nghiệp.
Chức năng của truyền thông: Truyền thông thông tin những lợi thế của sản phẩm đến các khách hàng. tiềm năng, giúp tăng số lượng bán của những sản phẩm hiện hữu, thiết lập nhận thức thuận lợi đối với sản phẩm mới, tạo hình ảnh tích cực của công ty, duy trì niềm tin, thái độ tố đẹp của khách hàng về thương hiệu, sản phẩm hay cho công ty.