CHƯƠNG 1 CO SO LY THUYET VE KE TOAN QUAN TR] CHI PHi TRONG DOANH NGHIEP SAN XUAT 1. BAN CHAT, VAI TRO KẾ TOÁN QUAN TRI CHI PHi TRONG DOANH NGHIEP 1. Bán chất của kế toán quản trị chỉ phí trong doanh nghiệp. toán quản trị chỉ phí là một bộ phận của hệ thống kế toán quản trị nhằm cung cấp thông tin về chỉ phí để mỗi tổ chức thực hiện chức năng quản trị yếu tố nguồn lực tiêu dùng cho các hoạt động, nhằm xây dựng kế hoạch, kiểm soát, đánh giá hoạt động và ra các quyết định hợp lý.
“Thông tin kế toán quản trị chỉ phí mang tính linh hoạt, thường xuyên và hữu ích, không bắt buộc phải tuân theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành. Thông tin kế toán quản trị chỉ phí cung cấp bao gồm cả những thông tin quá khứ và những thông tin dự báo thông qua việc lập các kế hoạch và dự toán chỉ phí trên cơ sở các định mức chỉ phí (bao gồm cả các định mức về số lượng và định mức về đơn giá) nhằm. căn cứ cho việc lựa chọn các quyết định về giá bán sản phẩm, quyết định ký kết các hợp đồng, quyết định tiếp tục sản xuất hay thuê ngoài gia công. 'Kế toán quản trị chỉ phí không chỉ thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin về các nghiệp vụ kinh tế đã thực sự hoàn thành, đã ghi chép hệ thống hoá trong các số kế toán mà còn xử lý và cung cấp các thông tin phục vụ cho việc ra quyết định quản trị 5, t.
3 - 4] KẾ toán quân tr chỉ phí chỉ cung cấp những thông tin về hoạt động kinh tế tài chính trong phạm vi yêu cầu quản lý nội bộ của một doanh nghiệp. Những thông tin đó chỉ có ý nghĩa đối với những người, những bộ phận và những nhà điều hành, quản lý doanh nghiệp, không có ý nghĩa đối với các đối tượng bên ngoài. 10 KẾ toán quản trị chỉ phí là một bộ phận của công tác kế toán nói chung và là một công cụ quan trọng không thể thiếu được đối với công tác quản lý nội bộ doanh nghiệp. Như vậy, kế toán quản trị chỉ phí nhắn mạnh đến tính dự báo của thông.
tin va trách nhiệm của các nhà quản lý thuộc các cấp quản lý. Vai trd ké ton quản trị chỉ phí trong đoanh nghiệp Kế toán quản trị chỉ phí có vai trò quan trọng trong quản trị, điều hành. doanh nghiệp, ra quyết định kinh đoanh: (1, tr. 343 - 344] Là nguồn chủ yếu để cung cấp thông tin cần thi cho nhà quản lý ra quyết định ở các khâu: + Cung cấp thông tin cho quá trình xây dựng kế hoạch Để thực hiện tốt được mục tiêu đề ra, kế hoạch phải được xây dựng trên những căn cứ khoa học, phải có những thông tin đầy đủ, thích hợp.
Kế toán quản trị tổ chức thu thập, phân tích, đánh giá, cung cấp thông tin để nhà quản trị có thể lựa chọn được phương án tối ưu cho việc lập kế hoạch của doanh nghiệp, + Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức thực hiện Trong giai đoạn này, kế toán quản trị tổ chức thu thập, xử lý, cung cấp thông tin nhanh chóng, kịp thời về tình hình hoạt động để nhà quản trị đưa ra các quyết định đúng đắn và tô chức thực hiện kịp thời các quyết định đó. + Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm tra và đánh giá. KẾ toán quản trị tổ chức lập báo cáo về kết quả thực hiện theo từng hoạt động, từng khâu công việc, cung cấp thông tin theo chức năng điều hành của nhà quản trị để nhà quản trị đánh giá, kiểm tra và đưa ra các quyết định theo chức năng của họ. + Cung cắp thông tin cho quá trình ra quyết định Ra quyết định không phải là một chức năng riêng biệt mà nó có ở tắt cả.
Để có được quyết định đúng đắn cần phải có thông tin đầy đủ, hợp lý. Để có thông tin này; kế toán quản trị tiến hành phân loại, tổng hợp, lựa chọn những thông tỉn thích hợp và loại trừ những thông tỉn không thích hợp và trình bày theo một trình tự dễ hiểu nhất phục vụ cho việc ra quyết định của nhà quản trị 'Kế toán quản trị là công cụ chủ yếu để lều hành quản lý, là một bộ phân quan trọng trong tiếp thị để quyết định sản xuất kinh doanh. Kế toán quản trị chỉ phí sản xuất là vấn đề cơ bản, là hạt nhân của kế toán quản trị nói chung. Kế toán quản trị là phương pháp xử lý các dữ liệu kế toán để đạt được.
mục tiêu thiết lập các thông tin cho việc lập dự toán ngân sách về chi phi, doanh thu và kết quả trong một thời kỳ hoạt động. NOL DUNG CUA KE TOÁN QUÁN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT ‘TRONG CAC DOANH NGHIEP SAN XUAT 1. Nhận diện và phân logi chi phi theo yéu clu ciia KTQT 4. Phân logi chi phi theo chite ning hoạt động.
Theo chức năng hoạt động, chỉ phí sản xuất kinh doanh trong doanh. nghiệp bao gồm: chỉ phí sản xuất và chỉ phí ngoài sản xuất. Chỉ phí sản xuất là toàn bộ chỉ phí có liên quan đến việc chế tạo sản phẩm trong một kỳ nhất định. Chỉ phí sản xuất được tạo thành từ ba yếu tố cơ bản: Chỉ phí nguyên vật liệu trực tiếp (NVLTT).
chỉ phí nhân công trực tiếp (NCTT), chỉ phí sản xuất chung (SXC): [7, tr. 50-54] ~ Đối với Công ty chỉ phí nguyên vật liệu trực tiếp để sản xuất tỉnh bột sắn gồm có: + Nguyên vật liệu chính: Củ mỳ sắn tươi + Chi phí nguyên vật liệu phụ: Hóa chất, vôi, phèn. + Nhiên liệu: Dẫu, than đá, nhớt các loại 12 + Bao bi: bao PP, PE - Chỉ phí nhân công trực tiếp: chỉ phí doanh nghiệp phải trả tính trên cơ sở toàn bộ lao động trực tiếp. Các khoản chỉ phí này bao gồm tiền lương, phụ cấp lương, phải trả cho lao động trực tiếp sản xuất; các khoản trích theo.
lương của lao động trực tiếp theo chế độ quy định doanh nghiệp phải chịu như bảo hiểm xã hội (BHXH). bảo hiểm y tế (BHYT). kinh phí công đoàn (KPCĐ). bảo hiểm thất nghiệp (BHTN).
~ Chỉ phí sản xuất chung là chỉ phí quản lý và phục vụ sản xuất phát sinh. ngoài hai khoản mục chỉ phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp và chỉ phí nhân công trực tiếp. Các chỉ phí này liên quan gián tiếp đến quá trình sản xuất sản. Ví dụ: chỉ phí vật liệu gián ti „ chỉ phí khấu hao tài sản cố định.
(TSCĐ), chỉ phí sửa chị , bảo tr bị, ic chi phf dịch vụ mua ngt Chỉ phí ngoài sản xuất: Chỉ phí ngoài sản xuất là chỉ phí liên quan đến cquá trình tiêu thụ sản phẩm và quản lý doanh nghiệp. - Chỉ phí bán hàng: Chỉ phí BH gầm các chỉ phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ như: tiền lương, các khoản phụ cắp phải trả cho nhân viên bán hàng, hoa hồng đại lý, hoa hồng môi giới. tiếp thị, đóng. sói, vân chuyển, bảo quản, khấu hao TSCD, chỉ phí vật liệu, bao bì, dụng cụ, đồ dùng, chỉ phí địch vụ mua ngoài và các chỉ phí bằng tiền khác như: chỉ phí bảo hành sản phẩm, chỉ phí quảng cáo, chỉ trả thưởng (khuyến mại).
~ Chỉ phí quản lý doanh nghiệp là những chỉ phí phát sinh liên quan đến việc tổ chức, quản lý hành chính và các chỉ phí liên quan đến các hoạt động. văn phòng làm việc của doanh nghiệp, nhà máy mà không thể xếp vào loại chỉ phí sản xuất hay chỉ phí bán hàng. Chỉ phí quản lý doanh nghiệp như: tiền lương, các khoản phụ cắp phải trả, ăn giữa ca, BHXH, BHYT, BHTN, KPCD của Bam giám đốc và nhân viên quản lý ở các phòng ban; chỉ phí vật liệu, đồ dùng văn phòng sử dụng cho công tác quản lý; khẩu hao TSCĐ dùng chung 13, cho toàn doanh nghiệp; các khoản thuế, lệ phí, chi phí dịch vụ mua ngoài thuộc doanh nghiệp; các chỉ phí khác bằng tiền mang tính chất chung toàn đơn vị như: dự phòng nợ phải thu khó đòi, phí kiểm toán, phí tiếp tân, công. tác phí, trợ cấp thôi việc cho người lao động, các khoản chỉ nghiên cứu khoa.
học, chỉ phí dịch vụ mua ngoài như chỉ phí điện, nước, chỉ phí tiếp tân, hội nghị. Ở tắt cả mọi tổ chức, doanh nghiệp, nhà máy đều có các loại CP này. Việc phân loại này giúp cho nhà quản lý xác định rõ được vị trí, chức năng hoạt động của chỉ phí trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp, phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm từ đó giúp xác định chỉ phí và kết quả của từng hoạt động kinh doanh một cách đúng đắn, nhanh. chóng cũng như cung cắp thông tin có hệ thống cho việc lập báo cáo tài chính.
nhanh chồng, kịp thời. Phân loại chi phí theo mỗi quan hệ với mức độ hoạt động (cách ứng, xử của chỉ phí) “Theo cách này người ta phân loại chỉ phí sản xuất thành ba loại: Chỉ phí sản xuất khả biến, CPSX bắt biến, chỉ phí sản xuất hỗn hợp: [6, tr. Chỉ phí bắt biến được chia thành các loại: Chỉ phí bắt biến bắt buộc, chỉ phí bắt biến không bắt buộc. - Chỉ phí đổi (biến ph: là những chỉ phí thay đổi tỷ lệ thuân với mức độ hoạt động.
Bi phí khi tính cho một đơn vị mức độ hoạt động thì không đồi và khi không có hoạt động thì biến phí bằng không. - Chỉ phí cố định (dinh phi): là những khoản chỉ phí không biển đổi khi mức độ hoạt động thay đổi trong phạm vi phù hợp. Phạm vi phù hợp là phạm. vi giữa khối lượng sản phẩm tối thiểu và khối lượng sản phẩm tối đa.
Có hai loại: định phí bắt buộc và định phí không bắt buộc. + Định phí bắt buộc: là những khoản chỉ phí không thể thay đổi nhanh chóng bằng hành động của các nhà quản trị (khấu hao TSCĐ, thuê tài sản.) 4 + Định phí tùy ý: là những khoản chỉ phí có thể thay đổi nhanh chóng. bằng hành động của các nhà quản trị như: chỉ phí quản lý, chỉ phí đào tạo, chỉ phí nghiên cứu và phát triển, ~ Chi phí hỗn hợp: là những khoản chỉ phí mà bao gồm cả biến phí và định phí. Trong một mức độ hoạt động nào đó chỉ phí hỗn hợp là định phí, ở một mức độ hoạt động khác chỉ phí hỗn hợp có thể gồm cả định phí và biến phí như: chỉ phí điện thoại, chỉ phí điện.
Chỉ phí hỗn hợp rất quan trọng vì nó rất phổ biến trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh.