CHƯƠNG 1: CO SO LY LUAN VE MARKETING DICH VU VA DICH VU LUU TRU 1.1, DICH VU VA VAL TRO MARKETING DICH VU 1. Khái niệm Hiện nay, Dịch vụ là một trong những lĩnh vực kinh tế lớn nhất. Xã hội cảng phát triển, trình độ chuyên môn hóa và phân công lao động xã hội cảng cao, lĩnh vực dịch vụ càng phát triển để đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội. Tuy nhiên, khái niệm về dich vu đến nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau.TS Trằn Minh Đạo, viết trong cuốn Giáo trình marketing căn bản: ịch vụ là một giải pháp hay lợi ich ma mot bên có thể cung ứng cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu.
Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liễn với sản phẩm vật chất”. Theo quan điểm của TS Lưu Văn Nghiêm: "Dịch vụ là một quá trình hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mỗi quan hệ giữa người cung cấp với khách hàng hoặc tài sản của khách hàng mà không có sự thay đổi quyền sở hữu. Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng khái niệm dịch vụ theo định. nghĩa của Phillip Kotler và Amstrong “Dich vụ là một hoạt động hay một lợi ích mà một bên có thể cung cáp cho bên kia, có tính vô hình và không dẫn đền sự chuyển giao sở hiều.
Đặc điểm dịch vụ: Dịch vụ thuần túy có 5 đặc trưng cơ bản phân biệt với hàng hóa thuần túy là: Tính vô hình: Hàng hoá có hình đáng, kích thước, màu sắc. Khách hàng có thể tự xem xét, đánh giá xem nó có phủ hợp với nhu cầu của mình không. Ngược lại, dịch vụ (DV) mang tính vô hình, làm cho các giác quan của khách hảng không nhận biết được trước khi mua DV. Tinh không chia tách được giữa cung cấp và tiêu dùng dịch vụ: Nhà cung ứng dịch vụ và khách hàng phải cùng hiện điện khi việc giao dịch tiến hành.
Nghĩa là khách hàng cũng là một phần của sản phẩm. Tinh không ổn định vẻ chất lượng: Chất lượng dịch vụ biến động nhiều, vì nó tùy thuộc và việc ai cung ứng, khi nào và 6 dau. Tính không thể lưu kho: Dịch vụ không thể lưu kho được. Một đêm nghỉ khách sạn không bán được, thi nha kinh doanh chịu lỗ đêm nghỉ đó.
Tính không thẻ chuyển quyền sở hữu: Khi mua một hàng hoá, khách hàng được chuyển quyền sở hữu và trở thành chủ sở hữu hàng hoá mình đã mua. Khi mua DV thì khách hàng chỉ được quyền sử dụng DV, được hưởng lợi ích mà DV mang lại trong một thời gian nhất định mà thôi. 'Từ những lập luận trên cho thấy, dịch vu có các đặc điểm như sau: - Dịch vụ phải gắn với hoạt động để tạo ra nó. Các nhân tố cấu thành dịch vụ không giống như các loại hàng hóa thông thường, chúng không tồn tại dưới dạng hiện vật.
~ Dịch vụ là một quá trình hoạt động diễn ra theo một trình tự bao gồm nhiều khâu, nhiều bước khác nhau. Mỗi khâu, mỗi bước có thể là những dịch vụ nhánh hoặc dịch vụ độc lập với dịch vụ chính. ~ Mỗi loại dịch vụ mang lại cho người tiêu dùng một giá trị nào đó. Giá trị của dịch vụ gắn liền với lợi ích mà họ nhận được từ dịch vụ.
Giá trị ở đây thỏa mãn mong đợi của người tiêu dùng, nó có quan hệ mật thiết với lợi ích tìm kiếm và động cơ mua dịch vụ. ~ Dịch vụ là một hàng hóa đặc biệt, nó có những nét đặc trưng riêng mà hàng hóa hiện hữu không có. Tiến trình ra quyết định mua sảm phẩm và sự hài lòng của khách hàng Tiến trình quyết định mua sản phẩm của khách hàng: Không phải ngẫu nhiên mà khách hàng tìm đến sản phẩm của doanh nghiệp và mua nó. Giống như hoạt động của kinh doanh; trước khi khách hàng ra quyết định mua họ cũng có 1 quy trình cụ thể gồm 5 giai đoạn được thể hiện qua Hình 1.Icho thấy tiến trình quyết định mua của khách hàng bắt đầu trước khi việc mua diễn ra và còn kéo dài sau khi mua.
Cụ thể, các giai đoạn như sau: Giai đoạn 1: Ý thức về nhu cầu Nhu cầu được hình thành khi khách hàng hay người tiêu dùng nhận ra sự khác biệt giữa thực tế và mong muốn của họ. Đi từ các nhu cầu thiết yếu như ăn, ngủ, nghỉ họ sẽ bắt đầu nảy sinh những nhu cầu cụ thể hơn như ăn mì, ăn cơm, uống Coca, uống nước ép. Nhu cầu có thể tự phát sinh hoặc có tác động của ngoại cảnh. Chính vì vậy doanh nghiệp phải hiểu rõ tính chất cũng, như xuất phát nhu cầu của khách hàng như thế nào để đưa ra các chiến lược phù hợp.
ee ee ee n oe LYee Hình 1. 1 So đồ tiến trình quyết định mua dịch vụ của khách hàng Giai đoạn 2: Tìm kiếm thông tin Sau khi hình thành nhu cầu, quá trình mua của khách hàng sẽ sang giai đoạn 2 là tìm kiếm thông tin. Có rất nhiều nguồn dé khách hàng tìm kiếm thông tin như: người thân, các trang mạng xã hội, Intemet, các phương tiện thông tin đại chúng,. Khách hàng tìm kiếm thông tin đề thu thập dữ liệu về sản phẩm, về nhãn hàng, các tính năng của sản phẩm, giá cả,.
Nhưng các l3 thông tin này là chưa đủ vì vậy họ sẽ chuyển sang giai đoạn thứ 3 là đánh giá và so sánh. Giai đoạn 3: Đánh giá các phương án “Trên thị trường phát triển nhiều loại sản phẩm hàng hóa nên khách hàng. có nhiều phương án lựa chọn để đáp ứng nhu cầu của mình. Vì vậy, khách hạng sẽ xác định các phương án và đánh giá phương án nào tối ưu và lựa chọn.
Lựa chọn nảo đem lại nhiều lợi ích cho khách hàng sẽ được lựa chọn. Giai đoạn 4: Quyết định mua Sau khi đánh giá các nhãn hiệu và sản phẩm sẽ đến giai đoạn quyết định mua. Giai đoạn 3 sẽ giúp khách hàng phân bậc được các nhãn hiệu và sản phẩm làm cơ sở giúp khách hàng đưa ra quyết định mua cuối cùng. thường các doanh nghiệp sẽ cho rằng khách hàng sẽ lựa chọn mua sản phẩm ” tốt nhất” mà quên mắt rằng quyết định sẽ vẫn có thể thay đổi bởi thái độ của người khác và các yếu tố bất ngờ của ngoại cảnh.
Chẳng hạn, thái độ của người thân và bạn bè ảnh hưởng khá lớn tới quá trình mua của khách hàng bởi đây là nguồn thông tin gần gũi và có thể nói là tin tưởng nhất đối với khách hàng. Hoặc các yếu tô bất ngờ của ngoại cảnh là điều không thể lường trước được, bởi nhu cầu hình thành trong quá trình mua của khách hàng chịu tác động rất lớn từ ngân sách hiện có, giá cả hay lợi ích sản phẩm. Giai đoạn S: Đánh giá sau mua Nhiều chủ kinh doanh cho rằng quá trình mua của khách hàng sẽ kết thúc sau khi trải qua giai đoạn 4, giai đoạn quyết định mua. Đây là một tư duy hoàn toàn sai lầm.
Bên cạnh mục đích là thu lợi nhuận kinh doanh thì các doanh nghiệp cần có tập khách hàng trung thành để duy trì và phát triển kinh doanh. Sau khi khách hàng quyết định mua hàng họ sẽ tiếp tục đánh giá sau mua. Đánh giá về chất lượng sản phẩm, giá cả hay thậm chí là thái độ phục vụ 14 của nhân viên. Chính vì vậy các dịch vụ hậu mãi và chăm sóc khách hàng sau mua là vô cùng quan trọng và cần thiết.
Sự hài lòng của khách hàng: Điều gì quyết định trạng thái hài lòng hay không của khách hàng đối với trải nghiệm vẻ dịch vụ? Câu trả lời nằm trong mối quan hệ giữa những ky vọng và tính năng sử dụng của dich vu ma họ cảm nhận được. Sự hải lòng về dich vụ của khách hàng, sẽ ảnh hưởng đến hành vi mua sau này của họ. Họ có thể sẽ quay lại trong lần tiếp theo, và là kênh quảng cáo tốt cho doanh nghiệp nếu cảm thấy hài lòng. Ngược lại, họ sẽ không mua nữa và nói những điều không tốt về trải nghiệm dịch vụ cho người khác.
Do dịch vụ có tính vô hình, nên những truyền thông bằng miệng này của người mua sẽ tạo su tin cay cao đối với khách hàng có ý định mua dịch vụ. Như vậy: Những điểm khác biệt giữa hàng hóa và dich vụ và sự hải lòng. của khách hàng cho thấy sự cẩn thiết phải phát triển marketing dich vụ để có những định hướng đúng đắn về hệ thống sản xuất dịch vụ. Marketing dịch vụ a.
Khai niệm về marketing dịch vụ: Marketing dịch vụ là quá trình thu nhật ìm hiểu, đánh giá và thỏa mãn nhu cầu của thị trường phát triển bằng hệ thống các chính sách, các biện pháp tác động vào toàn bộ quá trình tỗ chức sản xuất, cung ứng và tiêu dùng dịch vụ thông qua phân bố các nguồn lực của tổ chức. Marketing được duy trì trong sự năng động qua lại giữa sản phẩm dịch vụ, nhu cầu của người tiêu dùng và hoạt động của đối thủ cạnh tranh trên nền tảng cân bằng lợi ích giữa doanh nghiệp, người tiêu dùng và xã hội [6]. Khái niệm đã đề cập đến một số vấn đề cơ bản của marketing dịch vụ: ~ Nghiên cứu nhu cầu, đặc điểm nhu cầu của thị trường mục tiêu và những yếu tố chỉ phối thị trường mục tiêu. 15 ~ Thỏa mãn nhu cầu có hiệu quả hơn các đối thủ cạnh tranh trên cơ sở khai thác và huy động tất cả các nguồn lực của tô chức.
~ Thực hiện cân bằng động các mối quan hệ sản phẩm dịch vụ (loại hình, số lượng, chất lượng) với sự thay đôi nhu cầu của khách hàng. ~ Cân bằng ba lợi ích: lợi ích của doanh nghiệp, của người tiêu dùng và của xã hội trong sự phát triển bền vững. Vai trò Marketing dịch vụ. Từ những đặc trưng riêng của dịch vụ ở trên cho thấy việc áp dụng dụng.
Marketing dịch vụ có ý nghĩa rất quan trọng: ~_Nó giúp doanh nghiệp tồn tại lâu dài vững chắc và phát triển trên thị trường, nhờ vào cung cấp khả năng thích ứng với những thay đổi thị trường và môi trường bên ngoài. ~ Marketing dịch vụ cung cấp thông tin về doanh nghiệp ra bên ngoài và giúp phản hồi thông tin về doanh nghiệp. Qua đó, nghiên cứu phát triển sản phẩm dịch vụ, cung cấp dịch vụ khách hàng tốt hơn nâng vị thế cạnh tranh. ~ Marketing dịch vụ là chức năng quản trị quan trọng.
Bởi vì nó đóng vai trò kết nối hoạt động của các chức năng khác với thị trường; nó định hướng hoạt động cho các chức năng khác trong tổ chức dịch vụ như: nhân sự, tài chính,v.