phần mở đầu và kết luận, đề tài có 03 chương: + Chương l: Cơ sở lý luận về chiến lược marketing cho sản phâm + Chương 2: Phân tích hoạt động kinh doanh và chiến lược marketing cho sản phẩm “Tạo dựng cảnh quan” tại Công ty TNHH SX-TM-DV Hoa và Hon thé nita( FAM). + Chương 3: Chiến lược marketing cho sản phẩm tạo dựng cảnh quan tại Công ty TNHH SX-TM-DV Hoa và Hơn thế nữa 6. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu Việt Nam ngày càng phát triên, hội nhập với nền kinh tế thế giới, mở ra nhiều cơ hội mới cho đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh các cơ hội, các doanh nghiệp Việt Nam phải đối đầu với những thách thức rất lớn, chịu sự cạnh tranh rất khốc liệt của các doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Vì vậy, đẻ tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp Việt Nam phải đề ra chiến lược phát triển bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh. Thuật ngữ chiến lược xuất hiện từ thời Hi Lạp cô đại và đến nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về chiến lược, mỗi định nghĩa có ít nhiều điểm khác nhau tùy thuộc vào quan niệm của T*- gdz => moi tac gia. Chandler là một trong những người đầu tiên khởi xướng lý thuyết quản trị chiến lược. Năm 1962, chiến lược được Chandler định nghĩa như là “việc xác định các mục tiêu, mục đích cơ bản đài hạn của doanh nghiệp và việc áp dụng một chuỗi các hành động cũng như sự phân bỗ các nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu nay”.
(Chandler, Strategy and Structure, Massacchusettes.MIT Press, 1962) Cho đến những năm 1980, Quinn đã đưa ra định nghĩa có tính khái quát hơn: “Chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách, và các chuỗi hành động vào một tổng thẻ được cố kết một cach chat ché”. (Quinn, Strategies for Change: Logical Inscrementalism. Homewood, Illinois, Irwin, 1980) Theo cu6n “Exploring Corporate Strategy, 1999”, Johnson va Scholes đã định nghĩa chiến lược như sau : “Chiến lược là định định hướng và phạm vi hoạt động của một tô chức trong dài hạn nhằm giành được lợi thé thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đôi, dé đáp ứng nhu cầu thị trường và thỏa mãn mong đợi của các bên hữu quan”. Theo định nghĩa này, chiến lược của một doanh nghiệp được hình thành để trả lời các câu hỏi sau : © Hoạt động kinh doanh sẽ diễn ra ở đâu trong đài hạn? (định hướng).
e Hoạt động kinh doanh sẽ cạnh tranh trên thị trường sản phâm nào và phạm vi các hoạt động? (thị trường, phạm vi hoạt động). e_ Bằng cách nào hoạt động kinh doanh được tiễn hành tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh trên thị trường? (lợi thế). Nguồn lực nào (kỹ năng, tài sản, tài chính, nhân sự, công nghệ, thương hiệu.) cần thiết đề tạo ra lợi thế cạnh tranh? (nguồn lực). e Các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài tác động đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp? (môi trường).
Theo Michael Porter (1996), “Chiến lược là việc tạo ra một sự hài hòa giữa các hoạt động của một công ty. Sự thành công của chiến lược chủ yếu dựa vào việc tiến hành tốt nhiều việc và kết hợp chúng với nhau cốt lõi của chiến lược là “lựa chọn cái chưa được làm”. Theo cách tiếp cận này, chiến lược là tạo ra sự khác biệt trong cạnh tranh, tìm và thực hiện cái chưa được làm. Bản chất của chiến lược là xây dựng được lợi thế cạnh tranh, chiến lược chỉ tồn tại trong các hoạt động duy nhất.
Chiến lược là xây dựng một vị trí duy nhất và có giá trị tác động một nhóm các hoạt động khác biệt. Trong tác phâm “Esential of management’, Harold Koontz, Ciril O'Donnell và Hienz Weihrich đã định nghĩa chiến lược theo ba nghĩa phô biến sau: - Các chương trình hành động tổng quát và sự triển khai các nguồn lực quan trọng dé đạt được các mục tiêu toàn diện. - Chương trình các mục tiêu của một tổ chức và những thay đổi của nó, các nguồn lực và bố trí sử dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu, các chính sách điều phối thu nhập. - Xác định các mục tiêu dài hạn cơ bản của một doanh nghiệp, lựa chọn đường lối hoạt động và phân bô các nguồn lực khi cần thiết.
Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là một chương trình hành động tông quát, xác định các mục tiêu dài hạn, cơ bản của một doanh nghiệp, lựa chọn các đường lối hoạt động và chính sách điều hành các nguồn lực để đạt các mục tiêu, làm tăng sức mạnh một các hiệu quả nhất và giành được lợi thế bền vững tạo giá trị tăng cao. (Theo cuốn “Quản trị marketing” của PGS.TS Lê Thế Giới, TS. Trong hệ thống chiến lược của công ty thì chiến lược marketing là chiến lược có tác động mạnh mẽ nhất đến hiệu quả và cấu trúc của doanh nghiệp. Thông qua chiến lược marketing công ty giành được vị thế nhờ phối trí các hoạt động định giá, xúc tiến, quảng cáo, thiết kế sản phâm và phân phối.
Đây là một trong những chiến lược chức năng nhằm thực hiện chiến lược của công ty và của đơn vị kinh doanh (Theo cuốn Quản tri chiến lược của PGS.TS Lê Thế Giới, TS. Nguyễn Thanh Liêm, Th§. Trần Hữu Hải, 2007). Dưới sự tác động của sự phát triển thị trường tài chính và các công cụ tài chính, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, sự thay đôi bản chất của cạnh tranh và hợp tác, sự thay đổi nhanh chóng của môi trường và môi trường cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt hơn, tư duy marketing đã chuyên dịch sang marketing định hướng giá trị.
Các nỗ lực marketing phải hướng đến việc chuyên giao nhiều hơn giá trị cho khách hàng và xây dựng giá trị cho các cô đông/ chủ sở hữu doanh nghiệp ( PGS.TS Lê Thế Giới, TS. Nguyễn Xuân Lãn, ThS. Võ Quang Trí, ThS. Đinh Thị Lệ Trâm, ThS.
Phạm Ngọc Ái, “Quản trị marketing định hướng giá trị”, 201 1) Chiến lược marketing mix phải được bắt đầu bằng việc nghiên cứu thâm nhập thị trường, vạch ra những phân khúc thị trường khác nhau với những khách hàng có đặc điểm nhu cầu khác nhau từ đó đánh giá mức độ hấp dẫn của các phân đoạn. Công ty phải lựa chọn thị trường mục tiêu, lựa chọn những phân khúc mà công ty có thể đáp ứng khách hàng tốt nhất để không ngừng gia tăng giá trị mang lại cho khách hàng. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE CHIEN LUQC MARKETTING 1. MARKETING VA CHIEN LUQC MARKETING 1.
Khái niệm Marketing Thuật ngữ Marketing xuất hiện từ những năm đầu thế kỷ XX, lần đầu tiên tại Hoa Kỳ (1905) nhưng chỉ sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 ~ 1932) và đặc biệt là sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ II (1941-1945) nó mới có những bước nhảy vọt, phát triển mạnh mẽ về cả lượng và chất đề thực sự trở thành một lĩnh vực khoa học phổ biến như ngày nay. Marketing được truyền bá sang Nhật và Tây Âu vào những năm 50 và 60, vào các nước Đông Âu những năm 60 và 70, vào Việt Nam đầu những năm 80 của thế kỷ XX. Trong giới lý luận hiện nay mặc dù đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau về marketing nhưng vẫn chưa đi đến thống nhất sử dụng một định nghĩa chính thống. Ngày nay, định nghĩa của Philip Kotler được xem là hoàn chinh và đang được thừa nhận rộng rãi trên thế giới.
Theo Philip Kotler: Marketing la mét quá trình quản lý mang tinh xã hội, nhờ đó mà các cá nhân và tập thể có được những gì họ can va mong muốn thông qua việc tạo ra, chào bán và trao đổi những sản phẩm có giá trị với những người khác [ 10]. Chiến lược marketing a. Khái niệm chiến lược Có nhiều định nghĩa về chiến lược, các định nghĩa có những điểm khác nhau tùy thuộc vào quan niệm của mỗi tác giả. Năm 1962, Alfred Chandler (người đầu tiên khởi xướng lý thuyết quản trị chiến lược - ĐH Harvard định nghĩa: “Chiến lược là việc xác định các mục tiêu, mục đích cơ bản dài hạn của doanh nghiệp và việc áp dụng một chuỗi các hành động cũng như sự phân bỗ các nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu này”.
Đến những năm §0 khi môn học quản trị chiến lược đã trở nên chín muỗi, Quinn đã đưa ra định nghĩa có tính khái quát hơn: ” Chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách, và chuỗi hành động vào một tông thê được có kết một cách chặt chẽ ” [8]. Sau đó Johnson và Scholes định nghĩa chiến lược trong môi trường có nhiều thay đôi: “Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tô chức vẻ dai hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh cho tô chức thông qua việc định dạng các ngôn lực của nó trong môi trường thay đôi, để đáp ứng nhu cầu thị trường và thỏa mãn mong đợi của các bên hữu quan” Còn theo Michael Porter: “Chiến lược là nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thử [9]. Như vậy, có thể hiểu chiến lược là chương trình hành động tông quát, xác định các mục tiêu dài hạn, cơ bản của một doanh nghiệp, lựa chọn các đường lối hoạt động và chính sách điều hành các nguồn lực đề đạt các mục tiêu, làm tăng sức mạnh một cách hiệu quả nhất và giành được lợi thế bền vững tạo giá trỊ gia tăng cao. Khái niệm chiến lược marketing Chiến lược marketing là sự lý luận (logic) marketing nhờ đó một don vị kinh doanh hy vọng đạt được các mục tiêu marketing của mình.
C¡ hiến lược marketing bao gồm các bộ phận chiến lược chuyên biệt liên quan đến thị trường mục tiêu, marketing hôn hợp, hoạt động marketing và ngân sách marketing. [4] Theo Philip Kotler, chiến lược marketing phải bắt đầu bằng việc nghiện cứu thị trường, vạch ra những phân khúc thị trường khác nhau. Công ty phải lựa chọn thị trường mục tiêu, chỉ lựa chọn những phân khúc mà công ty có thê thỏa mãn nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất. Vai trò của chiến lược marketing Giữa người sản xuất và người tiêu đùng có một khoảng cách lớn đó là thị trường.
Người sản xuất phải dành thời gian và nguồn lực để phân tích thị trường, vạch ra các mục tiêu, định hướng, cách thức. Chiến lược marketing vạch ra những nét lớn cho hoạt động marketing của một doanh nghiệp, từ việc lựa chọn chiến lược phát triển, chiến lược cạnh tranh cho đến việc xây dựng các chương trình hành động cụ thể, nhờ đó một đơn vị kinh doanh hy vọng đạt được các mục tiêu đã đặt ra.