Chương I: Cơ sở lý luận về xây dựng chiến lược công ty; ~_ Chương II: Thực trạng xây dựng và thực hiện chiến lược tại công ty TNHH một thành viên cao su Chư Mom Ray; -_ Chương III: Xây dựng chiến lược phát triển công ty TNHH một thành. viên cao su Chư Mom Ray. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu > Bài viết “ Lý thuyết dựa vào nguồn lực của lợi thế cạnh tranh: Cách thức thực hiện chiến lược ( The resource — based theory of competitive advantage: implications for strategy formulation)” cua Robert M. Grant, ding trén California management review, spring 1991.
Trong bài viết này, cách tiếp cận về cách thức định hướng và xây dựng. chiến lược về cơ bản không khác xa nhiều so với nhiều tác giả viết về chiến lược khác. Grant đưa ra định nghĩa về chiến lược là: “Chiến lược là sự phù hợp mà tổ chức tạo ra giữa các ngun lực, kỹ năng bên trong và những cơ hội, thách thức từ môi trường bên ngoài ” Tuy nhiên trong cách tiếp cận về nền tảng để xây dựng chiến lược cho. công ty thì ông cho rằng việc dựa vào các phân tích những sự thay đổi của môi trường nhiều quá là không bền vững cho một chiến lược tốt đối với công.
ty vì môi trường là cái luôn thay đổi và thậm chí trong điều kiện ngày nay nó thay đổi rất nhanh mà có thể công ty không thẻ dự đoán trước được. Chính vì vậy, nguồn lực và khả năng của công ty có thể là nền tảng ồn định hơn rất nhiều để nhận dạng doanh nghiệp và làm căn cứ bền vững hơn trong việc xây. dựng chiến lược kinh doanh Trong bài viết này, Robert M. Grant cũng phân biệt rõ ràng giữa nguồn lực và khả năng của một công ty.
Nguồn lực là đầu vào sử dụng trong quá trình sản xuất — chúng là các đơn vị cơ bản của phân tích. Có 6 nhóm nguồn lực chính: nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực con người, nguồn lực công nghệ, nguồn danh tiếng, nguồn lực mang tính tổ chức. Khác với nguồn lực, khả năng hay năng lực tiềm tàng của công ty là kết quả của nhóm nguồn lực vận hành với nhau. Theo quan điểm trong bài viết này thì khi xây dựng chiến lược cho công.
ty, chúng ta cần phân tích và nhận diện các nguồn lực và khả năng của công, ty (năng lực tiềm tàng) dé tim ra những cái lâu bền, khó nhận diện và khó hiểu, khó sao chép, khó trao đổi mà đang tồn tại trong doanh nghiệp, doanh nghiệp đang sở hữu và có thể kiểm soát. Đây có thể được xem là những nguồn lực và khả năng cốt lõi của công ty và điều chủ yếu trong xây dựng chiến lược là thiết kế một chiến lược sử dụng chúng hữu hiệu nhất. “> Bài viết “ Cạnh tranh dựa vào nguồn lực ( Completing on resources ) cia David J. Collis va Cynthia A.
Montgomery, ding trén Havard business review, july august 2008 Trong bài viết này, về mặt quan điểm xây dựng chiến lược cho công ty vẫn tương đối giống với quan điềm của Robert M. Grant đã đưa ra năm 1991, đó là quan điểm xây dựng chiến lược công ty dựa vào nguồn lực và khả năng của công ty. Tuy nhiên, những tác giả của bài viết này đi sâu hơn vào việc hướng dẫn cách thức dựa vào nguồn lực như thế nào dé xây dựng chiến lược cho công ty. Quan điểm dựa vào nguồn lực công ty (RBV: Resource-based view of the firm) kết nối những phân tích bên trong về những van dé bên trong tô chức và những phân tích bên ngoài như môi trường cạnh tranh và ngành.
RBV nhìn nhận công ty như tập hợp khác nhau giữa tài sản vô hình, tài sản hữu hình và các khả năng. Những khả năng, những nguồn lực có giá trị thường tổn tại dưới nhiều dạng khác nhau bao gồm cả những nguồn lực, những khả năng dễ bị bỏ qua nếu công ty có quan niệm hẹp về năng lực cốt lõi. Lợi thế cạnh tranh thì thường xuất phát từ những nguồn lực, những khả năng nào đó mà công ty sở hữu. Nó xuất hiện do công ty sở hữu những nguồn lực hay những khả năng có giá trị khiến công ty có thể duy trì hoạt động tốt hơn hay rẻ hơn so với các đối thủ cạnh tranh.
Do đó, công ty có được hiệu suất vượt trội là nhờ dựa vào sự phát triển tập hợp các nguồn lực khác biệt có khả năng cạnh tranh và triển khai chúng vào trong chiến lược. Theo các tác giả của bài viết này thì một nguồn lực để được xem là cơ sở để các nhà quản trị công ty dựa vào đó đề xây dựng chiến lược thì nó phải đáp ứng 5 yêu cầu là: -_ Tính khó bắt chước: Nguồn lực này có khó khăn cho các đối thủ cạnh tranh trong việc bắt chước công ty để có được nó hay không? Nếu một nguồn lực nào khó bắt chước, thì những lợi nhuận được tạo ra từ nó sẽ có khả năng duy trì trong thời gian dài. Ngược lại, nếu công ty sở hữu những nguồn lực mà đối thủ dễ dàng sao chép thì chỉ có thẻ tạo ra những giá trị tạm thời. - Tinh lau bền: Nguồn lực này sẽ bị mắt đi nhanh như thế nào? Nguồn lực càng kéo dài thì nó càng có giá trị.
Giống như tính khó bắt chước thì điều này đòi hỏi nguồn lực có thể duy trì lợi thế cạnh tranh theo thời gian. - Tính phù hợp: Ai sẽ nhận được giá trị mà nguồn lực này tạo ra? Không phải tất cả các lợi nhuận được tạo ra từ nguồn lực một cách tự động sẽ thuộ tô chức sở hữu nguồn lực mà giá trị này có thể thuộc về nhân viên, nhà phân phối,. Điều quan trọng là tổ chức phải chắc rằng giá trị tạo ra từ nguồn lực đó sẽ thuộc về tô chức sở hữu nguồn lực. - Khả năng bị thay thế: Một nguồn lực độc đáo có thể bị thay thế bởi nguồn lực khác hay không? Công ty cần phải xem xét tính độc đáo của nguồn lực tạo ra giá trị của nó trong hiện tại, cái mà giúp tổ công ty cạnh tranh thành công lúc này có dễ dàng bị thay thế bởi các nguồn lực khác mà cũng có thê mang lại giá trị giúp các tổ chức khác cạnh tranh thành công như công ty, thậm chí hơn công ty hay không.
~_ Tính vượt trội trong cạnh tranh: Nguồn lực của ai thật sự tốt? Công ty cần xem xét lại nguồn lực mà mình xác định sẽ sử dụng làm cơ sở để xây dựng chiến lược có thật sự tạo ra được sự vượt trội trong cạnh tranh so với các đối thủ khác hay không. Như vậy, công ty cần xem xét, rà soát những nguồn lực của mình trên những tiêu chí đó để quyết định đâu là nguồn lực có thể làm cơ sở để xây dựng chiến lược cho công ty. Đồng thời trong bài viết này các tác giả cũng lưu ý đối với những người xây dựng chiến lược dựa vào nguồn lực rằng thế giới luôn thay đổi một cách liên tục nên công ty cần duy trì áp lực liên tục, tránh việc ngủ quên với sự thành công của chiến lược hiện tại mà cần phải liên tục chuẩn bị cho những sự thay đổi về nguồn lực, về chiến lược để đối phó với những điều kiện cạnh tranh thay đổi. Một trong những cách tốt nhất cho việc này mà các tác giả bai viết này đề nghị là công ty nên chú trọng vào việc đầu tư vào nguồn lực và nâng cấp nguồn lực của công ty.
CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE XAY DUNG CHIEN LUQC CONG TY 1. NHUNG VAN DE CO BAN VE CHIẾN LUQC CONG TY 1. Các khái niệm cơ bản về chiến lược a. Khái niệm chiến lược Trong quá trình tìm hiểu các tài liệu về chiến lược ta thấy có nhiều khái niệm khác nhau về chiến lược trong lĩnh vực kinh doanh được đưa ra bởi nhiêu tác ä khác nhau, nguyên nhân cơ bản của sự khác nhau này là do có các hệ thống quan niệm khác nhau về tổ chức nói chung và các phương pháp tiếp ân khác nhau về n lược của tô chức nói riêng.
Có thể nêu ra một số khái niệm về chiến lược trong lĩnh vực kinh doanh của một số tác giả như sau: ~_ Theo Alfied Chandler (1962) : “Chiến lược bao hàm việc xác định các mục tiêu, mục đích cơ bản dài hạn của doanh nghiệp và việc áp dụng một chuỗi các hành động cũng như sự phân bỗ các nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu này”; ~ Theo Quinn (1980): “Chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách, và chuỗi hành động vào một tổng thể được cố kết một cách chặt chẽ”; ~_ Theo Johnson và Scholes (1999): “ Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức về dài hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi, đẻ đáp ứng nhu cầu thị trường và thỏa mãn mong đợi của các bên hữu quan”; ~_ Theo Mintzberg: Định nghĩa chiến lược với 5 chữ P: Kế hoạch (Plan): một chuỗi các hành động dự định có ý thức; .Mô thức (Partern): sự kiên định về hành vi theo thời gian, dự định hay không dự định; Vị thế (Position): Phù hợp giữa tổ chức và môi trường của nó; Triển vọng (Perspective): Một cách thức thâm căn có đề để nhận thức thế giới; Thủ đoạn (Ploy): Một cách thức cụ thể để vượt lên trên đối thủ.David: Chiến lược kinh doanh là những phương tiện để đạt được mục tiêu dài hạn. Chiến lược kinh doanh có thể gồm có sự phát triển về địa lý, đa dạng hóa hoạt động, sở hữu hóa, phát triển sản phẩm, thâm nhập. thị trường, cắt giảm chỉ tiêu, thanh lý, liên doanh. David, Khái luận quản trị chiến lược, bản dịch, NXB Thống kê, 2006) Từ việc tìm hii những khái niệm trên ta có thể tóm tắt rằng: Chiến lược là tập hợp các quyết định (mục tiêu, đường lối, chính sách, phương thức, phân bổ nguồn lực,.) và phương châm hành động đẻ đạt được mục tiêu dài hạn, phát huy được những điểm mạnh, khắc phục được những điểm yếu của tổ chức, giúp tô chức đón nhận những cơ hội và vượt qua nguy cư từ bên ngoài một cách tốt nhất.
Khái niệm quản trị chiến lược Người ta thường xem chiến lược như là sản phẩm của một quá trình hoạch định hợp lý được dẫn dắt bởi quản trị cắp cao, song không phải là tắt cả. Trong rất nhiều trường hợp, các chiến lược có giá trị lại phát sinh từ bên trong tổ chức mà không có một sự hoạch định trước.