Luận văn quản lý thu bảo hiểm xã hội tại huyện Tam Nông - Lê Thị Mạnh

Luận văn thạc sĩ phân tích thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội tại huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả.

Trường đại học

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

127
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý thu bảo hiểm xã hội tại huyện Tam Nông

Bảo hiểm xã hội (BHXH) là chính sách an sinh quan trọng, góp phần ổn định đời sống người lao động và thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Tại huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp, công tác quản lý thu BHXH đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo nguồn tài chính cho quỹ BHXH. Quá trình thu BHXH bao gồm ba giai đoạn chính: tuyên truyền chính sách, huy động đóng góp và quản lý nguồn thu. Huyện Tam Nông có đặc thù nông nghiệp, với đa số lao động là nông dân, công nhân và viên chức. Việc quản lý thu BHXH tại đây gặp nhiều thách thức như nhận thức hạn chế của người dân, tình trạng trốn đóng, chậm đóng và quản lý hồ sơ chưa khoa học. Theo số liệu từ BHXH huyện Tam Nông, tỷ lệ tham gia BHXH tự nguyện còn thấp, trong khi BHXH bắt buộc chưa đạt tỷ lệ mong muốn. Công tác phối hợp giữa cơ quan BHXH huyện với doanh nghiệp, hộ kinh doanh và chính quyền địa phương vẫn chưa đồng bộ, dẫn đến tình trạng thất thu ngân sách. Để cải thiện, cần tăng cường tuyên truyền, nâng cao hiệu quả quản lý thu và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

1.1. Khái niệm và vai trò của quản lý thu BHXH

Quản lý thu BHXH là quá trình tổ chức thu, nộp, giám sát và sử dụng nguồn tài chính từ đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động nhằm đảm bảo quyền lợi cho người tham gia. Tại huyện Tam Nông, quản lý thu BHXH bao gồm thu BHXH bắt buộc (cho người lao động có hợp đồng lao động) và BHXH tự nguyện (cho người không thuộc diện bắt buộc). Vai trò chính của quản lý thu là đảm bảo nguồn tài chính ổn định cho quỹ BHXH, hỗ trợ người lao động khi gặp rủi ro như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hoặc tuổi già. Ngoài ra, quản lý thu còn góp phần nâng cao nhận thức của người dân về quyền lợi và nghĩa vụ tham gia BHXH, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội địa phương thông qua việc huy động nguồn lực tài chính bền vững.

1.2. Cơ sở pháp lý và chính sách BHXH tại huyện Tam Nông

Công tác quản lý thu BHXH tại huyện Tam Nông được thực hiện theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Huyện có trách nhiệm phối hợp với BHXH tỉnh Đồng Tháp triển khai các chính sách BHXH bắt buộc và tự nguyện, đảm bảo tuân thủ quy trình thu, nộp và báo cáo định kỳ. Theo quy định, người sử dụng lao động phải đóng BHXH cho người lao động với tỷ lệ 21,5% (trong đó 17% do doanh nghiệp đóng, 3% do người lao động đóng, 1,5% do ngân sách nhà nước hỗ trợ). Đối với BHXH tự nguyện, mức đóng linh hoạt từ 22% đến 4,5% mức thu nhập tháng. Ngoài ra, huyện còn thực hiện các chính sách hỗ trợ như miễn giảm đóng BHXH cho hộ nghèo, người khuyết tật và lao động nông nghiệp.

II. Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông

Tại huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp, công tác quản lý thu BHXH đang đối mặt với nhiều tồn tại cần khắc phục. Theo báo cáo năm 2020, tỷ lệ tham gia BHXH bắt buộc đạt 65%, thấp hơn mức trung bình toàn tỉnh. Nguyên nhân chính là do nhận thức hạn chế của người dân, đặc biệt là lao động nông nghiệp, về lợi ích lâu dài của BHXH. Tình trạng trốn đóng, chậm đóng vẫn diễn ra phổ biến, nhất là ở các doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh. Quá trình quản lý hồ sơ còn thủ công, dẫn đến sai sót và chậm trễ trong giải quyết quyền lợi. Ngoài ra, công tác tuyên truyền chưa hiệu quả, thiếu các hình thức tuyên truyền đa dạng phù hợp với đặc thù nông thôn. Hệ thống cơ sở dữ liệu chưa được số hóa hoàn toàn, gây khó khăn trong quản lý và giám sát. Theo khảo sát, 30% doanh nghiệp tại huyện chưa đăng ký tham gia BHXH cho người lao động, chủ yếu do thiếu hiểu biết về thủ tục và lợi ích.

2.1. Tỷ lệ tham gia và tình hình thu nộp BHXH

Năm 2020, huyện Tam Nông thu được 12 tỷ đồng từ BHXH bắt buộc, đạt 80% kế hoạch đề ra. Tuy nhiên, tỷ lệ tham gia BHXH tự nguyện chỉ đạt 15%, thấp hơn nhiều so với mục tiêu 30%. Nguyên nhân là do mức đóng BHXH tự nguyện cao, trong khi thu nhập của người dân không ổn định. Tình trạng nợ đóng BHXH chiếm 10% tổng số tiền thu, chủ yếu đến từ các doanh nghiệp nhỏ. Theo quy định, BHXH huyện phải báo cáo tình hình thu nộp định kỳ hàng tháng, nhưng do hệ thống quản lý chưa hoàn thiện, nhiều báo cáo bị chậm trễ. Ngoài ra, công tác kiểm tra, giám sát việc đóng BHXH còn lỏng lẻo, dẫn đến tình trạng trốn đóng vẫn diễn ra.

2.2. Những hạn chế trong quản lý hồ sơ và quy trình

Quản lý hồ sơ BHXH tại huyện Tam Nông chủ yếu thực hiện thủ công, dẫn đến tình trạng thất lạc, sai sót thông tin. Hiện nay, hệ thống quản lý hồ sơ chưa được số hóa hoàn toàn, gây khó khăn trong tra cứu và xử lý. Theo khảo sát, 20% hồ sơ có sai sót về thông tin cá nhân, thời gian đóng, hoặc mức hưởng. Quá trình giải quyết chế độ BHXH cho người tham gia mất nhiều thời gian do thủ tục hành chính rườm rà. Ngoài ra, công tác phối hợp giữa BHXH huyện với các cơ quan chức năng chưa chặt chẽ, dẫn đến thiếu thống nhất trong quản lý. Hiện tượng chậm giải quyết chế độ BHXH cho người hưởng lương hưu và người bệnh vẫn xảy ra, gây bức xúc trong nhân dân.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thu BHXH huyện Tam Nông

Để nâng cao hiệu quả quản lý thu BHXH tại huyện Tam Nông, cần triển khai đồng bộ các giải pháp từ tuyên truyền đến cải tiến quy trình. Trước hết, tăng cường công tác tuyên truyền về lợi ích của BHXH thông qua các phương tiện truyền thông địa phương, hội thảo và tuyên truyền trực tiếp tại cơ sở. Thứ hai, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ, triển khai hệ thống số hóa và tích hợp dữ liệu giữa BHXH huyện với các cơ quan liên quan. Thứ ba, tăng cường kiểm tra, giám sát việc đóng BHXH, xử lý nghiêm các trường hợp trốn đóng, chậm đóng. Ngoài ra, cần nâng cao năng lực cán bộ quản lý BHXH thông qua đào tạo nghiệp vụ và nâng cấp cơ sở vật chất. Cuối cùng, xây dựng chính sách hỗ trợ cho các đối tượng khó khăn, khuyến khích doanh nghiệp tham gia BHXH đầy đủ.

3.1. Tăng cường tuyên truyền và nâng cao nhận thức

Công tác tuyên truyền về BHXH cần được đa dạng hóa thông qua các kênh như đài phát thanh huyện, loa phóng thanh tại xã, hội thảo cộng đồng và tư vấn trực tiếp. Nội dung tuyên truyền nên tập trung vào lợi ích thiết thực của BHXH, như chế độ hưu trí, ốm đau, thai sản và tai nạn lao động. Đối tượng tuyên truyền ưu tiên là người lao động nông nghiệp, hộ kinh doanh nhỏ và doanh nghiệp vừa. Ngoài ra, cần phối hợp với các tổ chức đoàn thể như Hội nông dân, Hội phụ nữ để đẩy mạnh tuyên truyền. Theo khảo sát, sau khi triển khai chương trình tuyên truyền, tỷ lệ tham gia BHXH tự nguyện tại huyện đã tăng 5%.

3.2. Ứng dụng công nghệ và cải tiến quy trình

Huyện Tam Nông cần đầu tư vào hệ thống quản lý hồ sơ BHXH điện tử, tích hợp dữ liệu với BHXH tỉnh và các cơ quan thuế, bảo hiểm. Việc số hóa hồ sơ sẽ giảm thiểu sai sót, tiết kiệm thời gian và chi phí quản lý. Ngoài ra, triển khai ứng dụng di động cho người tham gia BHXH để tra cứu thông tin đóng, hưởng và nộp hồ sơ trực tuyến. Theo mô hình thí điểm tại huyện Bình Chánh, TP.HCM, sau khi áp dụng công nghệ, tỷ lệ thu nộp BHXH tăng 20% và thời gian giải quyết chế độ rút ngắn 30%.

IV. Kết luận và khuyến nghị cho quản lý thu BHXH huyện Tam Nông

Công tác quản lý thu BHXH tại huyện Tam Nông đang đối mặt với nhiều thách thức, nhưng cũng có những cơ hội cải thiện đáng kể. Những tồn tại như tỷ lệ tham gia thấp, tình trạng trốn đóng và quản lý hồ sơ thủ công cần được giải quyết triệt để. Giải pháp trọng tâm là tăng cường tuyên truyền, ứng dụng công nghệ và nâng cao năng lực cán bộ. Kết quả khảo sát cho thấy, nếu triển khai đồng bộ các giải pháp, huyện có thể đạt tỷ lệ tham gia BHXH bắt buộc 80% vào năm 2025. Ngoài ra, cần xây dựng chính sách khuyến khích doanh nghiệp tham gia BHXH, như hỗ trợ kinh phí đào tạo lao động hoặc giảm thuế đối với doanh nghiệp tuân thủ đầy đủ. Việc hoàn thiện hệ thống quản lý thu BHXH không chỉ đảm bảo nguồn tài chính ổn định cho quỹ BHXH, mà còn góp phần nâng cao đời sống người dân và phát triển kinh tế xã hội địa phương.

4.1. Đánh giá chung về thực trạng quản lý thu BHXH

Sau khi phân tích thực trạng, có thể khẳng định rằng công tác quản lý thu BHXH tại huyện Tam Nông còn nhiều hạn chế, nhưng cũng có những tiến bộ nhất định. Những thành tựu đáng ghi nhận bao gồm tỷ lệ thu nộp BHXH đạt 80% kế hoạch năm 2020 và sự quan tâm ngày càng tăng từ phía chính quyền địa phương. Tuy nhiên, tỷ lệ tham gia BHXH tự nguyện vẫn thấp, chủ yếu do nhận thức hạn chế và mức đóng cao. Tình trạng trốn đóng, chậm đóng vẫn diễn ra phổ biến, nhất là ở các doanh nghiệp nhỏ. Ngoài ra, hệ thống quản lý hồ sơ chưa hoàn thiện gây khó khăn trong giám sát và giải quyết quyền lợi.

4.2. Định hướng phát triển quản lý thu BHXH trong tương lai

Trong giai đoạn 2021-2025, huyện Tam Nông cần tập trung vào ba nhiệm vụ chính: thứ nhất, đẩy mạnh tuyên truyền và giáo dục pháp luật về BHXH; thứ hai, đầu tư vào công nghệ thông tin để số hóa quản lý hồ sơ; thứ ba, tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm các vi phạm. Ngoài ra, cần xây dựng chính sách hỗ trợ cho người lao động nông nghiệp, như miễn giảm đóng BHXH trong giai đoạn khó khăn. Để đạt mục tiêu này, huyện cần huy động nguồn lực từ ngân sách địa phương, doanh nghiệp và cộng đồng. Việc hoàn thiện hệ thống quản lý thu BHXH sẽ góp phần nâng cao đời sống người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

31/05/2026
Luận văn thạc sĩ quản lý thu bảo hiểm xã hội tại huyện tam nông tỉnh đồng tháp thực trạng và giải pháp

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cùng với sự phát triển về kinh tế không ngừng lớn mạnh thì chính sách an sinh xã hội của các nước trên thế giới cũng phát triển không ngừng. Ở nước ta, Bảo hiểm xã hội là một trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, đời sống nhân dân, phát triển bền vững đất nước. Hệ thống pháp luật, chính sách BHXH bao gồm 05 chế độ hưu trí, tử tuất, ốm đau, thai sản, tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp đã từng bước được hoàn thiện, phù hợp với thực tế đất nước và thông lệ quốc tế.

Chính sách BHXH đã khẳng định và phát huy vai trò là một trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, bảo đảm thay thế, hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ gặp phải những rủi ro trong cuộc sống. Bảo hiểm xã hội là hoạt động do Nhà nước tổ chức thực hiện và quản lý, không vì mục tiêu lợi nhuận. Do đó, yếu tố quản lý luôn được xem là vấn đề quan trọng khi triển khai thực hiện thu bảo hiểm xã hội. Bảo hiểm xã hội huyện Tam Nông là cơ quan chuyên môn do BHXH tỉnh Đồng Tháp trực tiếp quản lý về ngành dọc, đóng trên địa bàn huyện Tam Nông và chịu sự quản lý hành chính của Đảng bộ, UBND huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.

Những năm qua, chính sách bảo hiểm xã hội được tổ chức thực hiện và đạt những kết quả hết sức khả quan, kết quả thu năm sau luôn tăng cao hơn năm trước cả về số đơn vị, số người tham gia và số tiền thu. Công tác thu bảo hiểm xã hội là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong công tác của ngành bảo hiểm xã hội, do vậy luôn được bảo hiểm xã hội huyện quan tâm và thực hiện quản lý tốt góp phần ổn định kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn huyện. Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện chính sách BHXH vẫn còn nhiều hạn chế. Hệ thống pháp luật về BHXH chưa theo kịp tình hình phát triển kinh tế - xã hội, chưa kịp thích ứng với sự già hoá dân số.

Công tác phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội còn chậm; độ bao phủ bảo hiểm xã hội thấp; số người hưởng 1 bảo hiểm xã hội một lần tăng nhanh. Tình trạng trốn đóng, nợ đóng, gian lận, trục lợi bảo hiểm xã hội phổ biến và chậm được khắc phục. Thực tế đó đã đặt ra yêu cầu cần có sự nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện vấn đề quản lý thu bảo hiểm xã hội trong giai đoạn hiện nay trên địa bàn huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp, nhằm tìm ra những giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong điều kiện nền kinh tế hội nhập sâu rộng vào nên kinh tế thế giới. Với những yêu cầu trên, bản thân em chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý thu bảo hiểm xã hội tại huyện Tam Nông tỉnh Đồng Tháp, thực trạng và giải pháp” cho luận văn thạc sĩ của mình.

Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 2. Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài Bảo hiểm xã hội là chính sách lớn trong hệ thống chính sách an sinh xã hội nhằm mục đích mang công bằng xã hội đến với tất cả mọi người. Vì vậy, đã có rất nhiều luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ nghiên cứu những vấn đề về chính sách BHXH, tuy nhiên những đề tài về vấn đề quản lý thu BHXH vẫn đang hạn chế. Các nghiên cứu liên quan đến đề tài cụ thể như sau: Trần Văn Tiền và cộng sự (2011) đã tiến hành nghiên cứu dựa trên việc áp dụng phương pháp tiếp cận OASIS1 (Mathauer/Carrin, 2011), nhóm tác giả đã đánh giá những đặc điểm của hệ thống tài chính y tế hiện tại ở Việt Nam về thiết kế thể chế và thực hành tổ chức của hệ thống gắn kết với các chức năng tài chính y tế.

Trên cơ sở này, nhóm tác giả gợi ý thay đổi cần thiết trong thiết kế thể chế và thực hành tổ chức tài chính y tế được thực hiện để cải thiện hơn nữa hiệu suất của hệ thống tài chính y tế và tiến tới bao phủ BHYT toàn dân. Mathauer và cộng sự (2008) đã tiến hành nghiên cứu tập trung làm rõ các nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến việc mở rộng BHYT xã hội. Số liệu được sử dụng trong nghiên cứu được thu thập bằng phương pháp thảo luận nhóm tập trung. Kết quả phân tích cho thấy có nhân tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHYT, BHXH của NLĐ phi chính thức ở Kenya, đó là: Nhận thức của NLĐ và công tác tuyên truyền; thủ tục đăng ký tham gia; sự tin cậy và tin tưởng vào quản lý quỹ; tỷ lệ đóng 2 góp phù hợp; dịch vụ CSSK chất lượng; tổ chức thu BHYT tốt.

Trong đó, nhận thức của NLĐ và công tác tuyên truyền ảnh hưởng nhiều nhất vào việc mở rộng tham gia BHYT, BHXH của NLĐ phi chính thức. Tổng quan các nghiên cứu trong nước Nguyễn Thị Thanh Thanh (2017 “Hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội tại bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Nam”, hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về công tác quản lý thu BHXH, các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến công tác quản lý thu BHXH, đề tài nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội tại BHXH tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2014 - 2016; những thành công đạt được như: Công tác quản lý đối tượng tham gia, quản lý quỹ lương, mức đóng BHXH trên địa bàn đã được cũng cố, hoàn thiện, công tác đôn đốc, vận động được quan tâm đúng mức. Bên cạnh đó, đề tài cũng chỉ ra những hạn chế trong công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội tại BHXH tỉnh Quảng Nam như: tỷ lệ nợ còn khá cao, nhiều đơn vị chưa tham gia BHXH. Tác giả đã vận dụng lý luận và thực tiễn đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu BHXH tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Nam.

Phạm Thị Phong (2013) luận văn thạc sĩ “Tăng cường quản lý thu BHXH tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Nghệ An”. Luận văn phân tích thực trạng công tác quản lý thu BHXH tại BHXH tỉnh Nghệ An, đưa ra những giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả quản lý thu BHXH tại BHXH tỉnh Nghệ An. Từ những kết quả nghiên cứu, ta thấy được Luận văn đã đưa ra được những nhóm giải pháp, những kiến nghị, đề xuất nhằm tăng cường quản lý thu BHXH trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Nguyễn Thị Minh Trang (2017) “Tăng cường công tác kiểm soát thu BHXH tại BHXH tỉnh Quảng Nam”, đã dựa trên cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ, kiểm soát quy trình quản lý thu BHXH để làm rõ thực trạng và đánh giá công tác kiểm soát thu BHXH tại BHXH tỉnh Quảng Nam, bên cạnh đó tác giả đã tổng hợp các sai phạm, các hạn chế và nguyên nhân của thực trạng kiểm soát thu bảo hiểm xã hội tại bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Nam; trên cơ sở đó tác giả đã đề xuất các giải pháp tăng cường kiểm soát thu bảo hiểm xã hội tại BHXH tỉnh Quảng Nam.

Luận văn này trình bày về kiểm soát thu BHXH nên phạm vi nghiên cứu của luận văn này chủ yếu 3 về vấn đề quy định kiểm soát thu. Tuy nhiên, Luận văn nghiên cứu giai đoạn từ năm 2009 đến 2013 nên những nhóm giải pháp, kiến nghị, đề xuất của tác giả không còn phù hợp với thực tại; Luật BHXH số 58/2014/QH13 có hiệu lực từ ngày 01/01/2016 thay đổi rất nhiều nội dung mới nên cần phải có những giải pháp, kiến nghị và những đề xuất mới, phù hợp với hiện tại hơn. Trần Đình Liệu “Xây dựng quy định quản lý thu nợ BHXH, BHYT, BHTN”. Đề án đã nghiên cứu và đánh giá tình hình nợ BHXH, BHYT của các đơn vị sử dụng lao động tại 63 tỉnh, thành phố trên cả nước và công tác quản lý thu nợ BHXH, BHYT trong thời gian 03 năm 2010-2012.

Xác định những nguyên nhân khách quan, chủ quan đồng thời đề xuất các giải pháp quản lý có hiệu quả nhằm chống thất thu, ngăn ngừa tình trạng chiếm dụng tiền đóng và giảm nợ đọng BHXH, BHYT như: + Hoàn thiện Luật BHXH và các văn bản hướng dẫn có liên quan, giao thẩm quyền thanh tra về thu BHXH, BHYT cho cơ quan BHXH. + Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương, sự phối hợp của các cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương trong công tác thu hồi nợ đọng BHXH, BHYT. Tuy nhiên, từ ngày 01/01/2016, luật BHXH năm 2014 có hiệu lực thi hành, do đó đề án khoa học có những nội dung không còn phù hợp với thực tế hiện tại. Phạm Lương Sơn “Không ngừng đổi mới, đẩy mạnh công tác tuyên truyền” Tạp chí báo bảo hiểm xã hội kỳ 03, tháng 5/2017 (số 325).

Tác giả đã nêu lên những thuận lợi và thành tựu trong thời gian vừa qua và khẳng định công tác tuyên truyền đem lại hiệu quả tích cực, thiết thực, tạo được chuyển biến quan trọng làm nền tảng cho những hoạt động của ngành BHXH trong thời gian tới. Ngoài ra, bài viết cũng nêu lên được những tồn tại, yến kém, nguyên nhân trong công tác tuyên truyền và đưa ra những định hướng về nội dung, đối tượng, hình thức và một số giải pháp chủ yếu để thực hiện tốt công tác tuyên truyền như: đẩy mạnh công tác phối hợp với cơ quan truyền thông, cơ quan phối hợp, đơn vị chức năng có liên quan để tuyên tuyền đến mọi đối tượng tham gia BHXH, BHYT; mở rộng phạm vi triển 4 khai đến thôn, xóm, xã, phường; phân nhóm đối tượng có tỷ lệ tham gia BHXH, BHYT còn thấp như nông dân, xã viên hợp tác xã, người lao động tự do. để có giải pháp triển khai, phát triển đối tượng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ