Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG TẠI CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 1. Cơ sở lý luận về quản lý tài sản công tại các cơ quan hành chính nhà nước 1. Một số khái niệm liên quan đến quản lý tài sản công tại các cơ quan hành chính nhà nước 1. Cơ quan hành chính nhà nước a.
Khái niệm cơ quan hành chính nhà nước Theo Phan Trung Hiền (2018), bộ máy nhà nước là một chỉnh thể thống nhất, được tạo thành bởi các hệ thống cơ quan nhà nước. Bộ máy nhà nước Việt Nam gồm bốn hệ thống cơ quan chính: Cơ quan lập pháp, Chủ tịch nước, cơ quan hành pháp, cơ quan tòa án và cơ quan kiểm sát. Cơ quan hành chính nhà nước là một hệ thống cơ quan trong bộ máy nhà nước được thành lập theo hiến pháp và pháp luật, để thực hiện quyền lực nhà nước, có chức năng quản lý hành chính nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội một cách chủ yếu, thường xuyên và liên lục. Các cơ quan hành chính thực hiện hoạt động chấp hành, điều hành (đó là những hoạt động được tiến hành trên cơ sở luật và thực thi luật) nhằm thực hiện chức năng quản lý nhà nước.
Hoạt động chấp hành, điều hành hay còn gọi là hoạt động quản lý hành chính nhà nước là phương diện hoạt động chủ yếu của cơ quan hành chính nhà nước. Đặc điểm cơ quan hành chính nhà nước Khi phân tách rõ các cơ quan nhà nước cho phép phân cấp quản lý, phân quyền trách nhiệm chặt chẽ quyết định cho hiệu quả hoạt động của khu vực công, khác nhau về chức năng-nhiệm vụ của các cơ quan nên công tác quản lý tài sản công của nhà nước tại các đơn vị này tồn tại các nguyên tắc và mô hình quản lý khác nhau. Theo phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào quản lý tài sản công tại cơ quan hành chính nhà nước nên hiểu rõ và cụ thể vai trò cơ quan hành chính có ý nghĩa quan trọng trong hướng quản lý. Cơ quan hành chính nhà nước là bộ phận hợp thành của bộ máy nhà nước được thành lập để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước.
6 -Tổ chức cơ quan hành chính phụ thuộc vào mô hình tổ chức nhà nước. Việt Nam là mô hình nhà nước một cấp, cơ quan hành chính gồm cơ quan hành chính trung ương và cơ quan hành chính địa phương. + Cơ quan hành chính trung ương là các cơ quan quản lý hành chính mà thẩm quyền của các quyết định hành chính có hiệu lực trong phạm vi cả nước. Bộ máy của cơ quan hành chính trung ương đặt tại thủ đô, trung tâm chính trị của đất nước, để thực hiện các chức năng của mình các cơ quan hành chính bên trong nhằm giải quyết các công việc chuyên môn có liên quan như Cục, Vụ, Viện.
+ Tại cấp địa phương có cơ quan hành chính địa phương, là bộ phận của cơ quan nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước nói chung tại địa phương phân cấp. Để thực hiện chức năng quản lý của cơ quan hành chính địa phương như UBND thành lập các cơ quan hành chính giúp việc có chức năng quản lý ở địa phương và đảm bảo thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở. - Đặc điểm chung của cơ quan nhà nước và đặc trưng riêng của cơ quan hành chính là bộ phận quan trọng của nhà nước, cơ quan hành chính cũng có đặc điểm như: + Có quyền nhân danh nhà nước khi tham gia vào các quan hệ luật pháp nhằm thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý với mục đích hướng tới lợi ích công. + Hệ thống cơ quan hành chính có cơ cấu tổ chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định.
+ Cơ quan hành chính được thành lập và hoạt động dựa trên những quy định pháp luật, có chức năng, nhiệm vụ thẩm quyền riêng và có những mối quan hệ phối hợp trong thực thi công việc được giao. + Nguồn nhân sự chính của cơ quan hành chính nhà nước là đội ngũ cán bộ, công chức được hình thành từ tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc bầu cử theo quy định của Pháp lệnh cán bộ công chức.Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp thành phố trực thuộc tỉnh *Khái niệm UBND cấp thành phố trực thuộc tỉnh Theo Điều 8, Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, “UBND do Hội 7 đồng nhân dân cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương, Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên”. Theo Điều 55, Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, UBND thành phố trực thuộc tỉnh gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên. *Khái niệm các cơ quan chuyên môn thuộc UBND Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố trực thuộc tỉnh gồm có các phòng và cơ quan tương đương phòng, UBND ở cấp thành phố trực thuộc tỉnh là cơ quan tham mưu, giúp UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên.
Việc tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND phải bảo đảm phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo và điều kiện, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương; bảo đảm tinh gọn, hợp lý, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực từ trung ương đến cơ sở; không trùng lặp với nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước cấp trên đặt tại địa bàn.Tài sản công tại các cơ quan hành chính nhà nước a. Khái niệm tài sản công Tại Điều 53, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Điều 198, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đại diện, thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân”, “Chính phủ thống nhất quản lý và bảo đảm sử dụng đúng mục đích, hiệu quả và tiết kiệm tài sản thuộc sở hữu toàn dân”. Theo Điều 3, Luật Tài sản công ban hành năm 2017 thì: “Tài sản công là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, bao gồm: tài sản công phục vụ hoạt động quản lý, cung cấp dịch vụ công, bảo đảm quốc phòng, an ninh tại cơ quan, tổ chức, đơn vị; tài sản 8 kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân; tài sản công tại doanh nghiệp; tiền thuộc ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, dự trữ ngoại hối nhà nước; đất đai và các loại tài nguyên khác”.
Như vậy, tài sản công là những tài sản được hình thành từ nguồn NSNN, tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước theo quy định của pháp luật. Tài sản công bao gồm: Trụ sở làm việc và tài sản khác gắn liền với đất; quyền sử dụng đất đối với đất dùng để xây dựng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp của cơ quan, tổ chức, đơn vị; máy móc, phương tiện vận tải (ô tô, xe máy, .), trang thiết bị làm việc và các tài sản khác do quy định của pháp luật. * Khái niệm về tài sản công tại UBND thành phố Căn cứ vào những khái niệm nêu trên, ta có thể hiểu: Tài sản công tại UBND thành phố là những loại tài sản có nguồn gốc hình thành từ nguồn NSNN hoặc do điều chuyển, cấp phát. Những tài sản này bao gồm: trụ sở làm việc, các loại động sản và bất động sản, các trang thiết bị phục vụ cho việc thực hiện các nhiệm vụ do nhà nước giao.
Đặc điểm tài sản công Tài sản công đa dạng, phong phú về chủng loại. Mỗi tài sản có những đặc điểm, tính chất và công dụng là khác nhau. Tài sản công trong các cơ quan nhà nước là bộ phận tài sản quan trọng trong toàn bộ tài sản công, chúng có những đặc điểm chung sau: Thứ nhất, tài sản công trong các cơ quan hành chính được đầu tư xây, mua sắm từ NSNN hoặc có nguồn từ NSNN. Thứ hai, sự hình thành và sử dụng tài sản công phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan.
Thứ ba, vốn đầu tư xây dựng và mua sắm tài sản công không thu hồi được trong quá trình sử dụng tài sản công.