CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÚC TIẾN XUẤT KHẨU NÔNG LÂM SẢN 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm nông lâm sản Theo từ điển tiếng Việt, nông lâm sản (NLS) là các sản phẩm của nông nghiệp bao gồm các sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi, cụ thể là nhóm mặt hàng rau, củ quả, các sản phẩm ngũ cốc như gạo, ngô, sắn,các sản phẩm từ thịt, trứng.Như vậy, theo quan điểm này thì NLS chỉ bao gồm các sản phẩm thu hoạch trực tiếp từ cây trồng vật nuôi chứ không bao gồm các sản phẩm chế biến từ cây trồng vật nuôi đó như bánh kẹo, rượu, bia. Quan điểm này có những khác biệt rất rõ ràng so với quan điểm của tổ chức lương thực và nông nghiệp Thế giới (FAO).
NLS hàng hóa (cash crops) là khái niệm dùng để chỉ các loại NLS mà người nông dân sản xuất ra với mục đích bán ra thị trường. Ngược với NLS hàng hóa là NLS phục vụ cho mục đích tự sản, tự tiêu (Ngọc, 2006). Theo FAO, hàng NLS là tập hợp của nhiều nhóm hàng hóa khác nhau bao gồm: các sản phẩm nhiệt đới, nhóm hàng ngũ cốc, nhóm hàng thịt và các sản phẩm từ thịt, nhóm hàng dầu mỡ và các sản phẩm từ dầu, nhóm hàng sữa và các sản phẩm từ sữa, nhóm hàng NLS nguyên liệu, nhóm hàng rau quả. Như vậy, theo quan điểm này NLS bao gồm một phạm vi khá là rộng các loại hàng hóa có nguồn gốc từ hoạt động nông nghiệp như: - Các sản phẩm nông nghiệp cơ bản: lúa gạo, lúa mì, bột mì, sữa, động vật tươi sống (trừ cá và các sản phẩm từ cá), cà phê, hồ tiêu, hạt điều, chè, rau quả tươi,….
- Các sản phẩm phái sinh: bánh mì, bơ, dầu ăn, thịt,…. - Các sản phẩm được chế biến từ sản phẩm nông nghiệp: bánh kẹo, sản phẩm từ sữa, xúc xích, nước ngọt, rượu, bia, thuốc lá, bông xơ, da động vật thô. Qua đó có thể thấy có sự khác biệt trong cách hiểu về hàng NLS của Việt Nam và tổ chức FAO. Quan điểm của tổ chức Fao về NLS có nghĩa rộng hơn, bao gồm cả các sản phẩm được chế biến từ nông nghiệp như bánh kẹo, rượu, bia.
Xuất khẩu Xuất khẩu là việc đưa hàng hóa và dịch vụ ra khỏi một nước sang các quốc gia khác để bán nhằm thu được lợi nhuận. Xuất khẩu là một bộ phận của thương mại quốc tế, là một mặt biểu hiện các mối quan hệ xã hội trên phạm vi toàn cầu, nó phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế của các quốc gia. Thông qua xuất khẩu các nước tham gia vào việc phân công lao động quốc tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và khẳng định vị thế của quốc gia trên thương trường. Xuất khẩu tạo điều kiện cho các quốc gia khai thác được tiềm năng và lợi thế của quốc gia mình, từ đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.
Xuất khẩu được coi là hình thức thâm nhập thị trường nước ngoài ít rủi ro và chi phí nhất. Nông lâm sản xuất khẩu Như vậy, có thể hiểu nông lâm sản (NLS) xuất khẩu là các sản phẩm của nông nghiệp, lâm nghiệp được đưa ra khỏi biên giới quốc gia nhằm thu được mục tiêu lợi nhuận. Xuất khẩu hàng hóa NLS là hoạt động kinh doanh hàng NLS ở phạm vi kinh doanh quốc tế. Kinh doanh xuất khẩu NLS là mối quan hệ trao đổi hàng hóa NLS của quốc gia này với quốc gia khác trên toàn thế giới.
Hoạt động xuất khẩu NLS mang lại những hiệu quả kinh tế cao nhưng cũng có những khó khăn do phải đối đầu với những hệ thống kinh tế bên ngoài và sự cạnh tranh gay gắt với các quốc gia khác trên thế giới. Đặc điểm nông lâm sản xuất khẩu Tính thời vụ: Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao. Đó là một đặc thù điển hình nhất của sản xuất nông nghiệp, vì một mặt quá trình sản xuất nông nghiệp là quá trình sản xuất kinh tế gắn liền với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian hoạt động và thời gian sản xuất xen kẽ vào nhau, song lại không hoàn toàn trùng hợp nhau, sinh ra tính thời vụ cao trong nông nghiệp. Mặt khác do sự biến thiên về điều kiện thời tiết, khí hậu mỗi loại cây trồng lại có sự thích ứng nhất định với điều kiện đó, dẫn đến những mùa vụ khác nhau.
Vì vậy mà hàng NLS mang tính thời vụ cao. 6 Tính khu vực: Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt. Ở đâu có đất đai và lao động là ở đó tiến hành sản xuất nông nghiệp. Nhưng mỗi vùng, mỗi quốc gia có điều kiện đất đai, khí hậu thời tiết rất khác nhau nên hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng khác nhau, sản phẩm nông nghiệp cũng khác nhau.
Vì vậy sản phẩm nông nghiệp mang tính khu vực rõ rệt. Tính phân tán: Do đặc điểm sản xuất nông nghiệp mang tính khu vực cao, nên hàng NLS phân tán ở vùng nông thôn và trong tay hàng triệu nông dân đã trở thành một trở ngại trong việc thu mua hàng NLS của các doanh nghiệp. Tính tươi sống: Hàng NLS phần lớn là cơ thể sống cây trồng và vật nuôi. Các loại cây trồng và vật nuôi phát sinh, phát triển theo quy luật sinh học.
Do là cơ thể sống nên chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về thời tiết, khí hậu đều tác động trực tiếp đến sự phát triển của cây trồng, vật nuôi, đến kết quả thu hoạch sản phẩm cuối cùng. Vì vậy hàng NLS dễ bị hư hỏng, kém phẩm chất. Tính không ổn định: Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào khí hậu, thời tiết nên sản phẩm hàng NLS không ổn định, lên xuống thất thường, có nơi được mùa nhưng cũng có nơi mất mùa, chất lượng hàng NLS không đồng đều. Các mặt hàng NLS như: Gạo, cà phê, cao su, điều…là những hàng hoá thiết yếu đối với đời sống và sản xuất của mỗi quốc gia, cho nên đa số các nước trên thế giới đều trực tiếp hoạch định các chính sách can thiệp vào sản xuất, xuất khẩu lương thực và nước nào cũng chú trọng chính sách dự trữ quốc gia và bảo hộ nông nghiệp.
Mặt hàng NLS là mặt hàng chủ yếu của các nước chậm và đang phát triển, nó chủ yếu được sản xuất và tiêu thụ trong nội địa là chính, có rất ít quốc gia có khả năng xuất khẩu ra bên ngoài. Hàng NLS là một trong những mặt hàng có tính chiến lược, do vậy đại bộ phận buôn bán hàng NLS quốc tế được thực hiện thông qua hiệp định giữa các Nhà nước mang tính dài hạn. Tình hình buôn bán, sản xuất và xuất khẩu hàng NLS phụ thuộc vào tính thời vụ, mùa màng thu hoạch, phụ thuộc vào nhu cầu và điều kiện thanh toán của từng quốc gia nhập khẩu là chính, như: lạc, các nước nhập khẩu chủ yếu theo yêu cầu chất lượng quốc tế nhưng vẫn có một số quốc gia nhập khẩu lạc với chất lượng theo sự chấp nhận của thị trường như: thị trường Singapore, indonexia… 7 1. Yêu cầu của nông lâm sản xuất khẩu Hàng NLS muốn xuất khẩu tốt được đòi hỏi đáp ứng được các yêu cầu sau: - Sản phẩm NLS xuất khẩu phải đáp ứng được hàng rào kỹ thuật, đảm bảo đủ tiêu chuẩn chất lượng của nước nhập khẩu.
Đối với mỗi quốc gia, khu vực xây dựng cho mình một bộ tiêu chuẩn kỹ thuật đối với các sản phẩm NLS nhập khẩu khác nhau như các tiêu chuẩn về dư lượng các chất cấm, thuốc bảo vệ thực vật trong NLS, các quy định về kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm. - Yêu cầu về minh bạch nguồn gốc xuất xứ của NLS xuất khẩu: Hiện nay hầu hết các quốc gia nhập khẩu hàng NLS đều siết chặt các quy định về việc truy xuất nguồn gốc NLS nhập khẩu. Tức là, sản phẩm NLS xuất khẩu cần đảm bảo yêu cầu về đóng gói, có đầy đủ thông tin để truy xuất nguồn gốc. Ví dụ: Theo quy định, các doanh nghiệp phía Trung Quốc xin nhập khẩu NLS, hoa quả, trái cây từ Việt Nam và đều phải có giấy phép của cơ quan kiểm dịch động, thực vật.
Trong đó yêu cầu phải có đầy đủ thông tin: tên sản phẩm hoa quả, nguồn gốc xuất xứ, tên hoặc mã số nhà xưởng đóng gói bằng tiếng Trung hoặc tiếng Anh. Doanh nghiệp có thể dán thêm nhãn để bổ sung các thông tin kể trên đồng thời có mã vạch, QR code hoặc tem chống hàng giả để có thể kiểm tra về chất lượng sản phẩm và truy xuất nguồn gốc sản phẩm nhập khẩu bất cứ lúc nào. - Yêu cầu về sử dụng đúng quy trình, quy chuẩn sản phẩm đầu vào và có chứng nhận. Để đảm bảo sản phẩm NLS xuất khẩu đạt chất lượng của các nước nhập khẩu thì một trong những yêu cầu cần được đáp ứng đó là quy chuẩn sản phẩm đầu vào quá trình sản xuất từ lúc bắt đầu, phản ánh đầy đủ quá trình tạo ra sản phẩm, bao gồm: + Các vật liệu đầu vào, chủng loại gì, hóa đơn mua, số lượng và nơi mua.
+ Quá trình trồng trọt canh tác, vật tư sử dụng khi canh tác, từ khi bắt đầu mùa vụ hay lứa nuôi. + Quá trình thu hái, khai thác, sơ chế đóng gói và hệ thống phân phối đi đến đâu. - Yêu cầu về thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng, thị hiếu của thị trường. Sản phẩm NLS xuất khẩu cần thỏa mãn nhu cầu, đặc điểm thị hiếu của khách hàng nước nhập khẩu.
Các sản phẩm xuất khẩu nói chung và NLS xuất khẩu nói riêng cần hiểu thị trường, hiểu đặc điểm của người tiêu dùng, chủ động nắm bắt thông tin, cơ hội và 8 thâm nhập thị trường. Như vậy, để sản phẩm NLS có thể xuất khẩu được thì cần đáp ứng được các yêu cầu của nước nhập khẩu và đòi hỏi các sản phẩm NLS xuất khẩu cần nâng cao chất lượng sản phẩm, nông dân và nhà quản lý cần thay đổi tư duy để bắt kịp thị trường, nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm đầu ra của mình. Vai trò của nông lâm sản xuất khẩu 1. Góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước (GDP) Xuất khẩu các loại hàng hóa nói chung, xuất khẩu hàng NLS nói riêng và sự tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.