mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, danh mục bảng, biểu, mô hình, sơ đồ luận văn đƣợc kết cấu làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn quản lý nhà nƣớc đối với các cụm công nghiệp trên địa bàn cấp huyện. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với các cụm công nghiệp trên địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nƣớc đối với các cụm công nghiệp trên địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁC CỤM CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN CẤP HUYỆN 1.1 Những vấn đề chung về Cụm công nghiệp 1.1 Khái niệm và đặc điểm của cụm công nghiệp 1.1 Khái niệm Cụm công nghiệp (CCN) là khái niệm đƣợc sử dụng khá phổ biến và thƣờng xuyên trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của các nƣớc tƣ bản, đặc biệt là sau cuộc cách mạng khoa học công nghệ thế giới sau nhƣng năm 1979 - 1980.
Michael Porter (1990), “CCN là sự tập trung về mặt địa lý của các công ty và tổ chức liên quan trong một lĩnh vực cụ thể nào đó và bao gồm các ngành gắn kết với nhau”. CCN tập trung các nhà cung cấp đầu vào, các khách hàng tiêu thụ sản phẩm, cũng nhƣ các nhà sản xuất các sản phẩm khác có liên quan. Các CCN cũng có thể bao gồm các tổ chức nhƣ trƣờng đại học, viện nghiên cứu, trƣờng đào tạo nghề và các hiệp hội thƣơng mại. Theo Kuchiki (2005), “CCN là sự tập trung về mặt địa lý các công ty, các nhà cung cấp đặc thù, các nhà cung cấp dịch vụ và các tổ chức có liên quan chặt chẽ với nhau trong một lĩnh vực nào đó trong phạm vi một nƣớc hoặc một khu vực”.
Tại Việt Nam, trong quá trình phát triển, khái niệm CCN lần đầu đƣợc đƣa ra trong Công văn số 17/CP-KCN ngày 15 tháng 10 năm 1998 về việc xây dựng thí điểm 2 CCN vừa và nh tại huyện Gia Lâm và Thanh Trì - thành phố Hà Nội. Đây là một mô hình mới với nƣớc ta thời điểm đó, “CCN là một hình thức tổ chức sản xuất công nghiệp theo lãnh thổ, nó ra đời gắn với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa”. Mới nhất, khái niệm CCN đƣợc quy định tại Khoản 1 Điều 2 (có hiệu 6 lực ngày 15/07/2017) về quản lý phát triển cụm công nghiệp nhƣ sau: “Cụm công nghiệp là nơi sản xuất, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cƣ sinh sống, đƣợc đầu tƣ xây dựng nhằm thu hút, di dời các doanh nghiệp nh và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác vào đầu tƣ sản xuất kinh doanh”. CCN có quy mô diện tích không vƣợt quá 75 ha và không dƣới 10 ha.
Riêng đối với CCN ở các huyện miền núi và CCN làng nghề có quy mô diện tích không vƣợt quá 75 ha và không dƣới 5 ha.2 Đặc điểm Mục đích xây dựng: Quy tập những doanh nghiệp đã tồn tại từ những thập niên trƣớc mà đến nay c n tồn tại rải rác trong những khu dân cƣ gây ô nhiễm môi trƣờng. Thu hút đầu tƣ của các doanh nghiệp. Thu hút vốn đầu tƣ để phát triển công nghiệp theo quy hoạch là mục tiêu quan trọng của các cụm công nghiệp, với tính chất là “vùng lãnh thổ” hoạt động trong môi trƣờng đầu tƣ chung về cơ sở hạ tầng. Giải quyết vấn đề căng th ng về mặt bằng sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp.
Về thủ tục thành lập: Do UBND cấp tỉnh/ thành phố trực thuộc Trung ƣơng ra quyết định thành lập. Về chủ đầu tƣ: Các doanh nghiệp trong nƣớc có đủ năng lực và kinh nghiệm xây dựng và quản lý cụm công nghiệp.2 Phân loại các cụm công nghiệp Phân theo chức năng: có 2 loại hình cụm công nghiệp nhƣ sau: CCN tổng hợp (đa ngành): Là cụm công nghiệp đƣợc hình thành trên địa bàn các huyện, thị xã và thành phố, tập trung thu hút các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp và dịch vụ công nghiệp trong và ngoài địa phƣơng thuộc các ngành nghề khác nhau. 7 CCN làng nghề: “CCN tập trung thu hút các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ cho công nghiệp”. Tiểu thủ công nghiệp thuộc một nhóm ngành nghề tƣơng đối đồng nhất, gắn với những làng nghề s n có của địa phƣơng, mục tiêu là phục vụ việc di dời các cơ sở sản xuất của làng nghề, xã nghề ở ngay tại địa phƣơng, nhằm mở rộng mặt bằng sản xuất, giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng của làng nghề.
Các CCN làng nghề hầu nhƣ không có sự hiện diện của doanh nghiệp ngoài làng nghề. Phân theo chủ thể quản lý đầu tƣ xây dựng hạ tầng: có 3 loại nhƣ sau: CCN do UBND cấp xã, phƣờng làm chủ đầu tƣ. CCN do UBND cấp huyện (BQL các CCN) làm chủ đầu tƣ. CCN do các DN làm chủ đầu tƣ.
Phân theo quy mô có 2 loại CCN: Cụm công nghiệp dƣới 50 ha Cụm công nghiệp trên 75 ha.3 Vai trò cụm công nghiệp đối với phát triển kinh tế-xã hội 1.1 Huy động vốn đầu tư phát triển Thu hút vốn đầu tƣ để phát triển CCN theo quy hoạch là mục tiêu cũng nhƣ là vai tr quan trọng hàng đầu của các CCN. Với việc xây dựng không gian, cơ sở hạ tầng và các yếu tố đầu vào cần thiết, thuận lợi cho quá trình sản xuất, các CCN là công cụ để thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài nƣớc đến đầu tƣ sản xuất tại các địa phƣơng, thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế xã hội ở các địa phƣơng. Sự phát triển của các DN đầu tƣ tại các CCN trong dài hạn cũng sẽ đóng góp ngân sách nhiều hơn giúp địa phƣơng tái đầu tƣ phát triển cơ sở hạ tầng của các CCN và đầu tƣ phát triển các lĩnh vực KT-XH khác của địa phƣơng.2 Giải quyết việc làm cho lao động Phát triển CCN sẽ mở ra một không gian kinh tế rộng lớn, có rất nhiều tiềm năng để thu hút lao động và giải quyết việc làm. Ở các CCN nhờ mở 8 rộng quy mô sản xuất và kết hợp giữa sản xuất tập trung và phân tán nên đã thu hút đƣợc nhiều lao động, giải quyết việc làm, thúc đẩy phân công lao động ở nông thôn.
Không chỉ giải quyết việc làm cho lao động tại chỗ mà c n thu hút lao động tại các địa phƣơng khác. Việc phát triển CCN góp phần nâng cao chất lƣợng cuộc sống của cộng đồng, tăng thu nhập cho ngƣời lao động, đẩy nhanh quá trình thực hiện CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đầu tƣ, xây dựng đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, đảm bảo an ninh trật tự, vệ sinh môi trƣờng các CCN đã tách khu vực sản xuất ra kh i khu vực dân cƣ, giúp các DN có môi trƣờng sản xuất thuận lợi; đồng thời tạo điều kiện dẫn dắt công trình phụ trợ, các dịch vụ công nghiệp, tài chính, ngân hàng, cung cấp nhân lực, nguyên liệu dịch vụ phục vụ dân sinh, phục vụ lao động trong CCN. Sản phẩm công nghiệp trong các CCN ngày càng đa dạng và phong phú về chủng loại, chất lƣợng đƣợc cải thiện, từng bƣớc nâng cao khả năng cạnh tranh, đảm bảo cung cầu của nền kinh tế, giữ vững thị trƣờng trong nƣớc và mở rộng thị trƣờng xuất khẩu. Nhờ vậy, việc phát triển các CCN đã góp phần thúc đẩy gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp, qua đó thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng tích cực: tăng tỉ trọng ngành công nghiệp trong cơ cấu ngành kinh tế của các tỉnh nói riêng, của Việt Nam nói chung.4 Thúc đẩy ứng dụng khoa học - công nghệ Trình độ khoa học công nghệ của các DN công nghiệp Việt Nam nhìn chung khá lạc hậu so với các nƣớc trên thế giới, đặc biệt là ở các tỉnh miền núi, khu vực nông thôn.
Hình thành các CCN góp phần chuyển sản xuất công nghiệp từ phân tán, manh mún sang tập chung, chuyên môn hóa, nhờ vậy các DN trong CCN có điều kiện để áp dụng các dây chuyền công nghệ có công suất lớn hơn và hiện đại hơn và thúc đẩy đổi mới công nghệ. Việc hình thành các CCN cũng tạo điều kiện để thu hút các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài vào đầu tƣ 9 với những dây chuyền sản xuất với công nghệ tiên tiến, hiện đại, trong đó có những dự án công nghiệp kỹ thuật cao, những lĩnh vực mà DN Việt Nam còn yếu kém và cần khuyến khích phát triển nhƣ cơ khí chính xác, điện tử.5 Nâng cao hiệu quả kinh tế Các CCN là nơi tập trung hóa sản xuất cao và từ việc đƣợc tổ chức sản xuất khoa học, trang bị công nghệ kỹ thuật tiên tiến của các doanh nghiệp trong và ngoài nƣớc; các cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật làm việc tại các CCN sẽ đƣợc đào tạo và đào tạo lại về kinh nghiệm quản lý, phƣơng pháp làm việc với công nghệ hiện đại, tác phong công nghiệp. Những kết quả này có ảnh hƣởng gián tiếp và tác động mạnh đến các doanh nghiệp trong nƣớc trong việc đổi mới công nghệ, trang thiết bị, nâng cao chất lƣợng sản phẩm, thay đổi phƣơng pháp quản lý,… để nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao.2 Khái niệm vai trò quản lý nhà nƣớc đối với các cụm công nghiệp trên địa bàn cấp huyện 1.1 Khái niệm quản lý nhà nước đối với các cụm công nghiệp Quản lý nhà nƣớc (QLNN) đối với CCN trƣớc hết là một dạng hoạt động QLNN. QLNN là một dạng quản lý do nhà nƣớc làm chủ thể định hƣớng điều hành, chi phối, kiểm tra, giám sát, v.
để đạt đƣợc mục tiêu KT-XH trong những giai đoạn lịch sử nhất định. QLNN là sự quản lý bằng quyền lực của nhà nƣớc, ý chí nhà nƣớc, thông qua bộ máy nhà nƣớc làm thành hệ thống tổ chức điều khiển quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con ngƣời để đạt đƣợc mục tiêu KT-XH nhất định, theo những thời gian nhất định với hiệu quả cao. QLNN là một tất yếu khách quan, ý mang tính cƣỡng bức, cƣỡng chế, mệnh lệnh và tính chính trị rõ nét, đại diện cho cả xã hội.