Luận văn thạc sĩ quản lý nguồn vốn tại viễn thông bắc giang đơn vị thành viên tập đoàn bưu chính viễn thông việt nam

Luận văn thạc sĩ quản lý nguồn vốn tại Viễn thông Bắc Giang, đơn vị thành viên Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, phân tích hiệu quả quản lý vốn.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

141
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Luận văn thạc sĩ

Luận văn thạc sĩ này tập trung vào việc nghiên cứu và phân tích công tác quản lý nguồn vốn tại Viễn thông Bắc Giang, một đơn vị thành viên của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT). Nghiên cứu được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Đỗ Thị Hòa Nhã, với mục tiêu ứng dụng các kiến thức quản lý kinh tế vào thực tiễn. Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nguồn vốn, phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý vốn tại Viễn thông Bắc Giang.

1.1. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của luận văn thạc sĩ là phân tích thực trạng quản lý nguồn vốn tại Viễn thông Bắc Giang, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý vốn. Mục tiêu cụ thể bao gồm hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng quản lý vốn giai đoạn 2016-2018, và đề xuất các giải pháp cải thiện.

1.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là công tác quản lý nguồn vốn tại Viễn thông Bắc Giang. Phạm vi nghiên cứu bao gồm không gian (Viễn thông Bắc Giang), thời gian (2016-2018), và nội dung (quản lý nguồn vốn kinh doanh).

II. Quản lý nguồn vốn

Quản lý nguồn vốn là một yếu tố quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực viễn thông. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc quản lý vốn hiệu quả giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động, đầu tư vào cơ sở hạ tầng, và cạnh tranh trên thị trường. Viễn thông Bắc Giang đã đạt được một số kết quả trong quản lý vốn, nhưng vẫn còn tồn tại những hạn chế cần khắc phục.

2.1. Cơ sở lý luận về quản lý nguồn vốn

Nghiên cứu đã hệ thống hóa các lý luận về quản lý nguồn vốn, bao gồm khái niệm, đặc điểm, và các loại nguồn vốn trong doanh nghiệp. Vốn kinh doanh được xem là yếu tố đầu vào cơ bản, giúp doanh nghiệp duy trì và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh.

2.2. Thực trạng quản lý nguồn vốn tại Viễn thông Bắc Giang

Phân tích thực trạng cho thấy Viễn thông Bắc Giang đã có những bước tiến trong quản lý vốn, nhưng vẫn gặp phải những thách thức như hiệu quả sử dụng vốn chưa cao, cơ cấu vốn chưa tối ưu, và áp lực cạnh tranh từ thị trường.

III. Viễn thông Bắc Giang

Viễn thông Bắc Giang là một đơn vị thành viên của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT), hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ viễn thông và công nghệ thông tin. Nghiên cứu đã khái quát về lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức, và kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị này trong giai đoạn 2016-2018.

3.1. Lịch sử hình thành và phát triển

Viễn thông Bắc Giang được thành lập và phát triển trong bối cảnh ngành viễn thông Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ. Đơn vị đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển của ngành viễn thông tại địa phương.

3.2. Kết quả hoạt động kinh doanh

Trong giai đoạn 2016-2018, Viễn thông Bắc Giang đã đạt được những kết quả đáng kể trong hoạt động kinh doanh, bao gồm tăng trưởng doanh thu và mở rộng thị phần. Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng vốn vẫn còn là vấn đề cần cải thiện.

IV. Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam

Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) là một trong những tập đoàn kinh tế lớn nhất tại Việt Nam, hoạt động trong lĩnh vực bưu chính viễn thông. Nghiên cứu đã phân tích vai trò của VNPT trong việc hỗ trợ và quản lý các đơn vị thành viên, bao gồm Viễn thông Bắc Giang.

4.1. Vai trò của VNPT

VNPT đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng chiến lược và hỗ trợ các đơn vị thành viên như Viễn thông Bắc Giang trong việc quản lý nguồn vốn và phát triển kinh doanh.

4.2. Chiến lược quản lý vốn

VNPT đã triển khai các chiến lược quản lý vốn hiệu quả, bao gồm việc tối ưu hóa cơ cấu vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong các đơn vị thành viên.

V. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nguồn vốn

Nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nguồn vốn tại Viễn thông Bắc Giang, bao gồm cải thiện công tác lập kế hoạch vốn, tăng cường huy động vốn, và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Các giải pháp này được xây dựng dựa trên phân tích thực trạng và các bài học kinh nghiệm từ các doanh nghiệp khác.

5.1. Giải pháp đối với hoạt động lập kế hoạch vốn

Cải thiện công tác lập kế hoạch vốn giúp Viễn thông Bắc Giang chủ động hơn trong việc quản lý và sử dụng nguồn vốn, đảm bảo hiệu quả kinh doanh.

5.2. Giải pháp đối với công tác huy động vốn

Tăng cường huy động vốn từ các nguồn khác nhau, bao gồm vốn vay và vốn đầu tư, giúp đơn vị có đủ nguồn lực để đầu tư và phát triển.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý nguồn vốn tại viễn thông bắc giang đơn vị thành viên tập đoàn bưu chính viễn thông việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NGUỒN VỐN KINH DOANH TẠI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1. Cơ sở lý luận về quản lý nguồn vốn kinh doanh tại doanh nghiệp Nhà nước 1. Lý luận về vốn kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nước 1. Khái niệm, đặc điểm của doanh nghiệp Nhà nước * Khái niệm: Trải qua thời gian, các định nghĩa về DNNN đã có sự thay đổi từ Luật doanh nghiệp Nhà nước năm 2003, sau đó là Luật doanh nghiệp 2005 và hiện giờ là Luật doanh nghiệp 2014.

Nếu như trong Luật doanh nghiệp Nhà nước 2003 định nghĩa DNNN là tổ chức kinh tế Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc nắm giữ cổ phần hoặc vốn góp chi phối, thì đến Luật doanh nghiệp năm 2005 ghi nhận DNNN chỉ đơn thuần là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ. Cùng với quá trình cổ phần hóa, sắp xếp lại các DNNN, do vậy đến năm 2014, Luật doanh nghiệp 2014 ra đời định nghĩa rõ ràng về khái niệm DNNN như sau: “Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ” (Điểm 8, Điều 4, Luật Doanh nghiệp 2014). Cách định nghĩa DNNN của Luật doanh nghiệp 2014 đã thu hẹp phạm vi các doanh nghiệp được xác nhận là DNNN, theo đó những doanh nghiệp mà Nhà nước chỉ góp một phần vốn hoặc sở hữu chi phối vốn điều lệ cũng vẫn chưa đủ điều kiện gọi là DNNN. Điều này được thể chế hóa ở cấp độ luật đã tạo ra một cuộc các mạng lớn về tư duy quản lý cũng như những thay đổi mang tính chất bước ngoặt đối với hoạt động kinh doanh đầu tư đối với DNNN.

DNNN hiện nay chỉ tồn tại dưới 1 hình thức duy nhất là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước (với tư cách là tổ chức) làm chủ sở hữu, bao gồm: - Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế Nhà nước, công ty mẹ của công ty Nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công ty con, hoặc - Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên độc lập do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 6 * Đặc điểm của doanh nghiệp Nhà nước: DNNN trước tiên mang đầy đủ các đặc điểm của một DN. Do vậy, cũng giống các loại hình DN khác, DNNN có đầy đủ các đặc điểm là: (i) một tổ chức; (ii) có tên riêng; (iii) có tài sản; (iv) có trụ sở giao dịch và (v) được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. DNNN có thêm các đặc điểm của loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên mà nguồn vốn điều lệ thuộc sở hữu Nhà nước như sau: Thứ nhất, tính đặc biệt của DNNN được thể hiện ở chỗ Nhà nước là tổ chức đóng vai trò chủ sở hữu, chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi vốn điều lệ (khoản 1 Điều 73 Luật doanh nghiệp 2014); Thứ hai, về tư cách pháp nhân, DNNN có Giấy chứng nhận đăng ký DN; Thứ 3, DNNN không được quyền phát hành cổ phần (Khoản 3 Điều 73 Luật doanh nghiệp 2014).

Thay vào đó, DNNN được huy động vốn bằng cách cần phải tuân thủ các nguyên tắc quy định tại Khoản 2 Điều 23 Luật quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh, tại doanh nghiệp 2014 (gọi tắt là Luật quản lý, sử dụng vốn Nhà nước), số 69/2014/QH13 (Luật quản lý, sử dụng vốn Nhà nước, 2014). Các loại nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp Đối với công ty Nhà nước, nguồn vốn kinh doanh gồm: Nguồn vốn kinh doanh được Nhà nước giao vốn, được điều động từ các DN trong nội bộ Tổng công ty, vốn do công ty mẹ đầu tư vào công ty con, các khoản chênh lệch do đánh giá lại tài sản (được ghi tăng, giảm nguồn vốn kinh doanh), hoặc được bổ sung từ các quỹ, được trích lập từ lợi nhuận sau thuế của hoạt động kinh doanh hoặc được các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước viện trợ không hoàn lại. * Khái niệm nguồn vốn Nguồn vốn là nguồn hình thành nên tài sản của doanh nghiệp. Nguồn vốn cho biết tài sản của doanh nghiệp do đâu mà có và doanh nghiệp phải có những trách nhiệm kinh tế, pháp lý đối với tài sản của mình.

* Khái niệm vốn kinh doanh: Khái niệm về vốn là một khái niệm kinh tế có từ rất sớm, song tùy theo từng mục đích mà các khái niệm này khác nhau theo từng thời kỳ. Theo quan điểm của Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 7 Marx, “ Vốn chính là tư bản, là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất”. Định nghĩa của Marx có tầm khái quát lớn, tuy nhiên do hạn chế về mặt trình độ phát triển của nền kinh tế mà Marx quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế (Nguyễn Minh Đạo, 1997).Samuelson, nhà kinh tế học theo trường phái tân cổ điển đã kế thừa các quan điểm của trường phái cổ điển về yếu tố sản xuất để phân chia các yếu tố của đầu vào sản xuất thành ba bộ phận là đất đai, lao động và vốn (Khoa học quản lý, 2001). Theo ông, vốn là các hàng hoá được sản xuất ra để phục vụ cho một quá trình sản xuất mới, là đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh của một DN, đó có thể là máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ…Trong quan niệm về vốn của Samuelson không đề cập đến các tài sản tài chính, những tài sản có giá có thể đem lại lợi nhuận cho DN, ông đã đồng nhất vốn với tài sản của DN.

Trong cuốn kinh tế học của David Beeg, tác giả đã đưa ra hai định nghĩa về vốn: Vốn hiện vật và vốn tài chính của DN. Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá, sản phẩm đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hoá khác. Vốn tài chính là tiền và các giấy tờ có giá trị của DN (David Begg, Standley Fisher, Rudger Dombush, 2007). Như vậy David Beeg đã bổ sung định nghĩa vốn tài chính cho định nghĩa vốn của Samuelson.

Nhìn chung, các nhà kinh tế đã thống nhất ở điểm chung cơ bản: Vốn là yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh, được sử dụng để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ cung cấp cho thị trường. Như vậy, vốn của DN là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ vật tư, tài sản, được đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy vốn là một loại hàng hoá đặc biệt. Trước hết, vốn là hàng hoá vì nó có giá trị và giá trị sử dụng.

Giá trị của vốn thể hiện ở chi phí mà chúng ta bỏ ra để có được nó. Giá trị sử dụng của vốn thể hiện ở việc ta sử dụng nó để đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh (mua máy móc, thiết bị, hàng hoá. Vốn là hàng hoá đặc biệt bởi vì có sự tách biệt rõ ràng giữa quyền sử dụng và quyền sở hữu. Khi vay vốn chúng ta chỉ có quyền sử dụng vốn còn quyền sở hữu vẫn thuộc về chủ sở hữu của nó.

Tính đặc biệt của vốn còn thể hiện ở chỗ vốn không bị hao mòn hữu hình trong quá trình sử dụng mà còn có khả năng tạo ra giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Chính vì vậy, giá trị của vốn phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố của môi trường kinh tế vĩ mô, không phụ thuộc vào lợi ích cận biên của bất kỳ DN nào. Điều này đặt ra nhiệm vụ đối với nhà quản trị tài chính là phải làm sao sử dụng tối đa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 8 hiệu quả vốn để đem lại một giá trị thặng dư tối đa, đủ chi trả cho chi phí bỏ ra để vay vốn và có lợi nhuận tối đa. Theo Nguyễn Đình Kiệm (2007) thì “vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản của DN được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời” (Nguyễn Đình Kiệm, 2007).

Khái niệm, đặc điểm của vốn kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nước * Khái niệm Hiện nay, trong các văn bản pháp lý chưa tìm được khái niệm định nghĩa thế nào là vốn kinh doanh của DNNN. Thay vào đó, Luật doanh nghiệp 2014 đã đưa ra một khái niệm có tính chất tương đương là “Vốn Nhà nước tại DN”. Theo Khoản 8, 9 Điều 3 Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp số 69/2014/QH13 ngày 26/11/2014 có quy định: “Vốn Nhà nước tại DN bao gồm vốn từ ngân sách Nhà nước, vốn tiếp nhận có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước; vốn từ quỹ đầu tư phát triển tại DN, quỹ hỗ trợ sắp xếp DN; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn khác được Nhà nước đầu tư tại DN. Vốn của DN do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ bao gồm vốn chủ sở hữu của DN và vốn do DN huy động.” (Quốc hội, 2014) Như vậy, có thể hiểu, vốn kinh doanh của DNNN gồm có hai phần là vốn chủ sở hữu và vốn huy động của DNNN.

Và nguồn vốn có thể bắt nguồn từ ngân sách Nhà nước hay có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước, từ quỹ đầu tư phát triển, quỹ hỗ trợ sắp xếp của chính DNNN; hay từ nguồn vốn huy động dưới dạng tín dụng do Chính phủ bảo lãnh, tín dụng đầu tư phát triển Nhà nước và các hình thức vốn khác mà Nhà nước đầu tư. * Đặc điểm của vốn kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nước Trước hết, vốn của DNNN có đầy đủ đặc điểm vốn của các DN. Đó là: Thứ nhất, vốn đại diện cho một lượng tài sản nhất định, có nghĩa là vốn được biểu hiện bằng giá trị của tài sản hữu hình và vô hình của DN. Thứ hai, vốn vận động sinh lời, đạt được mục tiêu kinh doanh của DN.

Thứ ba, vốn được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định, có như vậy mới có thể phát huy tác dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Thạc Sĩ Quản Lý Nguồn Vốn Tại Viễn Thông Bắc Giang - Đơn Vị Thành Viên Tập Đoàn Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam là một nghiên cứu chuyên sâu về quản lý nguồn vốn trong lĩnh vực viễn thông, tập trung vào đơn vị thành viên của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam tại Bắc Giang. Tài liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về các chiến lược quản lý vốn hiệu quả, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm tối ưu hóa nguồn lực tài chính. Đây là nguồn tham khảo quý giá cho các nhà quản lý, nghiên cứu viên và sinh viên quan tâm đến lĩnh vực tài chính và viễn thông.

Để mở rộng kiến thức về quản lý tài chính trong các lĩnh vực khác, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng giải pháp mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn việt nam chi nhánh phú thọ ii, nghiên cứu về các giải pháp mở rộng thanh toán quốc tế. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ xây dựng ngân hàng tmcp xuất nhập khẩu việt nam thành tập đoàn tài chính ngân hàng theo mô hình ngân hàng đa năng cung cấp góc nhìn về chuyển đổi mô hình ngân hàng. Cuối cùng, Hcmute thực trạng và giải pháp cho thuê tài chính hiện nay ở việt nam là tài liệu hữu ích để hiểu rõ hơn về thị trường cho thuê tài chính tại Việt Nam.