Chương 1: Những lý luận cơ bản về tập đoàn tài chính — ngân hàng theo kiểu công ty mẹ - công ty con. Trong đó, công ty mẹ vả công ty con đều có tư cách pháp nhân độc lập, có tài sản và bộ máy quản lý riêng. Giao dịch giữa ngân hàng mẹ và các công ty con hay giữa các công ty con trong cùng một tập đoàn là giao dịch bên ngoài, giao dịch thị trường. Đặc điểm của mô hình này là ngân hàng mẹ (holding company) sở hữu toàn bộ hoặc một tỷ lệ nhất định vốn cổ phần trong các công ty con, đề ra chiến lược và định hướng phát triển tổng thể của tập đoàn, đồng thời phân bổ nguồn lực của tập đoàn thông qua các hoạt động tài chính như phát hành, mua bán chứng khoán, cơ cấu lại tài sản của các công ty con.
Ngoài ra, ngân hàng mẹ còn sử dụng vốn của minh dé đầu tư, góp vốn cổ phần, liên doanh, liên kết để hình thành các công ty con hoặc công ty liên kết. Các công ty con là những pháp nhân độc lập, hoạt động tự chủ và tự chịu trách nhiệm. Hình thức pháp lý của công ty con khá đa dạng, có thể là công ty cổ phần do ngân hàng mẹ nắm giữ cỗ phần chỉ phối; công ty TNHH hai thành viên trở lên, trong đó ngân hàng mẹ giữ tỷ lệ vốn góp chi phối; công ty liên doanh với nước ngoài do ngân hàng mẹ năm giữ tý lệ vốn góp chỉ phối; công ty TNHH một thành viên do ngân hàng mẹ là chủ sở hữu. i Thứ hai, qui mô hoạt động — sức mạnh tài chính: Tiềm lực tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hoạt động và khả năng phát triển lâu dài của tập đoàn.
Trong đó, nguồn vốn có tác dụng hỗ trợ cho tập đoàn đổi mới công nghệ, mở rộng các lĩnh vực kinh doanh, phát triển dịch vụ mới, tăng cường năng lực cạnh tranh và mở rộng thị phần. Các ngân hàng tiên tiễn và tập đoàn tài chính mạnh thường cung cấp dịch vụ đa dạng và đạt chất lượng cao với nhiều đối tượng khách hàng khác nhau. Lúc đó, ngân hàng sẽ có nhu cầu mở rộng thêm hoạt động kinh doanh, thành lập nhiều công ty con và tổ chức theo mô hình tập đoàn. iii/ Thứ ba, nguồn nhân lực: Tài chính — Ngân hàng là một ngành sử dụng công nghệ kỹ thuật cao, hệ thống quản trị rủi ro đặt trên hàng đầu, nên vấn đề nguồn nhân lực chất lượng cao chính là vẫn đề then chôt để tập đoàn có thê hoạt động hiệu quả.
Không những thế, quy mô Trang 12 Chương 1: Những lý luận cơ bản về tập đoàn tài chính — ngân hàng quản lý của tập đoàn ở mức cao do vậy bộ máy nhân sự có kinh nghiệm, chuyên sâu về nghiệp vụ càng đóng vai trò quan trọng hơn nữa. Đồng thời để cạnh tranh với các đối thủ, thì nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, được đào tạo bài bản sẽ thực hiện tốt vai trò tư vấn, giúp đỡ khách hàng lựa chọn được sản phẩm thích hợp nhất, góp phân tạo nên điểm khác biệt về sản phẩm so với tập đoàn khác. iv/ Thứ tư, trình độ công nghệ và các dịch vụ tài chính cung ứng: Sự phát triển của khoa học công nghệ trong lĩnh vực dịch vụ tài chính là yếu tô quan trọng đóng góp cho sự phát triển các dịch vụ mới, gắng kết và làm trơn tru trong hoạt động giữa các nghiệp vụ. Tạo ra lượng sản phẩm có giá trị gia tăng cao, giảm thiểu thời gian, sai sót trong khi tác nghiệp.
Các dịch vụ tài chính được chia thành nhiều nhóm: dịch vụ ngân hàng cá nhân, dịch vụ ngân hàng công ty, dịch vụ chứng khoán và kinh doanh chứng khoán, dịch vụ đầu tư và tư vấn đầu tư, quản lý quỹ đầu tư, dịch vụ bảo hiểm và đại lý bảo hiểm, dịch vụ cho thuê tài chính, dịch vụ thẻ; dịch vụ quản lý tài sản, ngân quỹ, mua bán nợ, và các dịch vụ tài chính khác. Đặc trưng của các dịch vụ tài chính là có quá trình sản xuất trùng với quá trình phân phối, trừu tượng và dễ bị bắt chước, vì vậy đòi hỏi cao ở chất lượng và tốc độ cung cấp. Việc nâng cao khả năng cung ứng dịch vụ tài chính cũng giúp tập đoàn tài chính — ngân hàng gia tăng lợi nhuận, mở rộng thị trường, phân tán, giảm thiểu rủi ro và tăng cường khả năng cạnh tranh. MÔ HÌNH ĐIỄN HÌNH CỦA TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG 1.1 Một số mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng trên thế giới Trên thế giới, mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng ở các khu vực và các nước cũng được thiết lập với các cấu trúc và hình thức khác nhau, dưới đây là mô hình của một số nước.
Mô hình ngân hàng đa năng (universal banking) Đây là mô hình tập đoàn ngân hàng mà trong đó một ngân hàng bao gồm tất cả các hoạt động kinh doanh tài chính của tập đoàn. Các cổ đông của ngân hàng Trang 13 Chương 1: Những lý luận cơ bản về tập đoàn tài chính — ngân hang trực tiếp quản lý mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Mô hình này xuất hiện sớm ở Anh và Mỹ với các hoạt động, nghiệp vụ kinh doanh của cả ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư. Ở Mỹ, loại hình tập đoàn này là sản phẩm của Đại luật Glass - Steagall Act of 1933.
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, đã xuất hiện và tồn tại sự phân định giữa ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư. Mặc dù cho đến thời điểm hiện nay, ở châu Âu, việc phân định ranh giới giữa ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư đã không còn, tuy nhiên cho đến khi cuộc khủng hoảng tài chính ngân hàng toàn cần năm 2008 diễn ra, vẫn còn một lượng lớn các ngân hàng đầu tư thuần tuý. Vì vậy, các ngân hàng lớn thường có xu hướng hoạt động như những ngân hàng toàn cầu trong khi một số tổ chức nhỏ hơn lại tập trung vào việc phát triển thành những ngân hàng thương mại chuyên biệt hoặc như là những ngân hàng đầu tư. Điều này đặc biệt đúng tại một số quốc gia với kiểu ngân hàng truyền thống lục địa Châu Âu.
Những ví dụ điển hình của những ngân hàng toàn cau 1a Deutsche Bank của Ditc, UBS va Credit Suisse cua Thuy Si.1: Mô hình ngân hàng da nang (universal banking) CÁC CÓ ĐÔNG | ‘ NGAN HANG KINH KINH KINH DOANH DOANH DOANH NGAN BAO CHUNG HANG HIEM KHOAN 1. Mô hình công ty mẹ nắm vẫn thuần tiy (holding company) Trong mô hình này, một công ty mẹ sở hữu cổ phần của các Công ty /ngân hàng con; công ty mẹ chủ yếu thực hiện hoạt động đầu tư tài chính và chịu trách nhiệm quản lý các công ty con trên từng lĩnh vực. Các công ty mẹ thường có ưu điểm là có thể giảm thiểu rủi ro cho các chủ sở hữu, cho phép sở hữu và kiểm soát số lượng các công ty khác nhau. Tại Mỹ, có đến 80% trở lên số chứng khoán biéu Trang 14 Chương 1: Những lý luận cơ bản về tập đoàn tài chính — ngân hàng quyết phải được năm giữ trước thuế lợi tức trong khi có thể yêu cầu miễn thuế đối với cổ tức.
Đôi khi một công ty có ý định trở thành một công ty mẹ thuần tuý sẽ tự định danh mình bằng cách thêm các từ như “Holdings” hoặc “ (Holdings)” vào tên của nó. Cũng tại Mỹ, đối với lĩnh vực tài chính - ngân hàng, ta có thé thay mô hình này hiện điện ở Tập đoàn Citigroup, HSBC. Các cô đông của công ty mẹ không trực tiếp quán lý những hoạt động của các công ty con. Với ưu thế rủi ro của lĩnh vực này không ảnh hưởng đến lĩnh vực khác, mô hình này đặc biệt phố biến ở những tập đoàn tài chính quốc tế, ở Mỹ và cũng đã được cho phép ở Nhật Bản.
Bên cạch mô hình Công ty mẹ sở hữu vốn thuân túy thì còn có mô hình Công ty mẹ là Ngân hàng. Hiện nay, theo thông tin tính đến ngày 31/03/2009 của Trung tâm Thông tin quốc gia của Hoa Kỳ thì tại Mỹ có 50 định chế tài chính được tổ chức theo mô hình “Bank Holding Company`.2: Mô hình công ty nim von thuan tuy (Financial holding company) [ CÁC CỎ ĐÔNG | L CÔNG TY MẸ J | Vv ` NGAN CONG TY CONG TY BAO HANG CHUNG KHOAN HIEM 1. Mô hình công ty me - con (Parent — subsidiary relationship): trong do công ty mẹ vừa nắm vốn vừa kinh doanh ngân hùng Trong mô hình này, các cô đông của ngân hàng quản lý trực tiếp hoạt động ngân hàng nhưng chỉ gián tiếp điều hành các công ty chứng khoán và bảo hiểm. Ở đây, các công ty chứng khoán và bảo hiểm hay các công ty tài chính khác là công ty con của ngân hàng, và vôn của từng công ty sẽ được quản lý một cách độc lập với Trang 15 Chương 1: Những lý luận cơ bản về tập đoàn tài chính — ngân hàng vốn của ngân hàng.
Tuy nhiên, khi xảy ra rủi ro cho từng công ty thì vẫn có thể gây ra rủi ro dây chuyên cho các lĩnh vực khác của tập đoàn.3: Mô hình công ty quan hệ mẹ - con (Parent — subsidiary relationship) [ CÁC CÔ ĐÔNG | ‘ NGAN HANG | v Ỷ CÔNG TY CÔNG TY BẢO CHỨNG HIEM 1. Mô hình điển hình của tập đoàn Tài chính — Ngan hang tại Việt Nam Ở nước ta, hiện tại vấn chưa có một văn bản pháp lý nào hướng dẫn, hay quy định mô hình bắt buộc của tập đoàn tài chính — ngân hàng. Theo Nghị định 153/2007/NĐ-CP thì: “Tập đoàn kinh tế bao gôm nhóm các công ty có tu cách pháp nhân độc lập, được hình thành trên cơ sở tập hợp, liên kết thông qua đấu tư, góp vốn, sáp nhập, mua lại, tổ chức lại hoặc các hình thức liên kết khác; gắn bó lâu đài với nhau về lợi ích kinh té, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác tạo thành tổ hợp kinh doanh có từ hai cấp doanh nghiệp trở lên dưới hình thức cong ty me - cÔng ty con `. Công ty mẹ được tổ chức dưới hình thức công ty cô phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn, đáp ứng điều kiện của Luật Doanh nghiệp.
Công ty con được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn theo quy định của Luật Đoanh nghiệp hoặc của pháp luật liên quan.