phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, biểu đồ, sơ đồ vẽ, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về NH Thƣơng mại (NHTM) và hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng Thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng HĐKD của NH TMCP Bảo Việt - CN Hải Phòng từ năm 2011 - 2015. Chƣơng 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại NH TMCP Bảo Việt - CN Hải Phòng. 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGẦN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Tổng quan về NH thƣơng mại NHTM đã Biểu đồ thành, tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển của hệ thống NHTM đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngƣợc lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao của nó - kinh tế thị trƣờng - thì NHTM cũng ngày càng đƣợc hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu đƣợc. Theo các nhà nghiên cứu thì NH xuất hiện từ thời trung cổ, tiền thân là các tiệm kim hoàn. Khi đó, các nhà giầu thƣờng gửi tiền bạc của mình tại các tiệm kim hoàn cho an toàn, đổi lại họ nhận đƣợc chứng thƣ xác nhận quyền sở hữu tài sản gửi và họ phải mất một khoản chi phí cho tiệm.
Lúc đầu các tiệm kim hoàn chỉ đơn giản giữ tiền hộ khách hàng và sẵn sàng chi trả cho khách hàng khi họ tới rút, dần dần họ nhận thấy để tiền chết là không hiệu quả, trong khi có rất nhiều ngƣời cần tiền làm vốn kinh doanh. Từ đó họ bắt đầu mang tiền của khách gửi đi cho vay, dần dần Biểu đồ thức này ngày một phát triển và một số tiệm kim hoàn trở thành Biểu đồ thức đầu tiên của NH. Đến thế kỷ XVIII, cách mạng công nghiệp đã mang đến một sự thay đổi to lớn cho đời sống xã hội, lƣợng hàng hóa sản xuất ra tăng vọt, đòi hỏi một lƣợng vốn lớn để phát triển sản xuất, các nghiệp vụ “đi vay”, “cho vay”, “thanh toán trung gian”, “phát hành giấy bạc” của các NH diễn ra hết sức sôi nổi. Nhà nƣớc không quản lý đƣợc lƣợng “giấy bạc” do NH phát hành ra buộc các nhà nƣớc phải xiết chặt quản lý, từ đó Biểu đồ thành NH đƣợc phép phát hành “giấy bạc” sau này gọi là NHTW và NH không đƣợc phép phát hành “giấy bạc” chỉ làm nhiệm vụ thanh toán trung gian, tín dụng trung gian….
Qua quá trình phát triển tiếp theo đã Biểu đồ thành 05 tổ chức NH gồm: NH thƣơng mại; NH phát triển; NH đầu tƣ; NH chính sách; Các tổ chức tín dụng và hợp tác [1]. Khái niệm ngân hàng thương mại Có rất nhiều khái niệm về NH thƣơng mại: Ở Mỹ: NHTM là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính (financial - Service Industry). Ở Pháp: NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở nào thƣờng xuyên nhận của công chúng dƣới Biểu đồ thức ký thác hay Biểu đồ thức khác số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính. Ở Việt Nam: Theo quy định tại Điều 20 khoản 2 và 7 Luật các tổ chức tín dụng (số 02/1997/ QH 10) đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam ban hành thì: “ NHTM là một tổ chức tín dụng đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động NH và các HĐKD khác có liên quan”.
Nhƣ vậy, có thể phát biểu khái niệm về NHTM: NHTM là một DN kinh doanh tiền tệ, là một TCTD thực hiện huy động vốn nhàn rỗi từ các chủ thể trong nền kinh tế để tạo lập nguồn vốn tín dụng và cho vay phát triển kinh tế, tiêu d ng cho xã hội [1], [2]. Chức năng ngân hàng thương mại a. Chức năng trung gian tín dụng Đây là chức năng đặc trƣng và cơ bản nhất của NHTM và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển: Là “cầu nối” giữa cung và cầu vốn trong xã hội, khơi nguồn vốn từ những ngƣời có thể vì lý do gì đó không d ng nó một cách sinh lợi sang những ngƣời có ý muốn d ng nó để sinh lợi. Đảm bảo sự vận động liên tục của guồng máy kinh tế xã hội, thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế vì đã đáp ứng đƣợc nhu cầu vốn để duy trì liên tục quá trình tái sản xuất xã hội.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhờ tận dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi vào quá trình cho vay sinh lời. Chức năng quản lý ngân quỹ cho xã hội Với chức năng này, NHTM nhận tiền gửi của công chúng, DN và các tổ chức khác, vừa đảm bảo an toàn tài sản, vừa đáp ứng nhu cầu rút tiền của KH. Đồng thời NH cam kết chi trả một mức lãi suất nhất định cho khách hàng tùy thuộc vào loại Biểu đồ gửi tiền. Qua việc thực hiện chức năng này thì NH tạo đƣợc nguồn vốn để thực hiện chức năng tín dụng, và còn là cơ sở để Ngân hàng thực hiện chức năng thanh toán.
Chức năng làm trung gian thanh toán và quản lý các phƣơng tiện thanh toán Để thực hiện chức năng này, NH cung cấp cho khách hàng các phƣơng tiện thanh toán không sử dụng tiền mặt nhƣ: thẻ thanh toán, ủy nhiệm chi, séc,… Trên cơ sở khách hàng mở tài khoản tiền gửi tại NH, thay mặt cho khách hàng, NHTM trích tiền trên tài khoản trả cho ngƣời đƣợc hƣởng hoặc nhận tiền vào tài khoản theo ủy nhiệm chi của khách hàng. Hoạt động trên của NHTM mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế: Thúc đẩy nhanh quá trình lƣu thông hàng hóa, thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế vì chức năng này đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ luân chuyển vốn trong nền kinh tế. Tiết giảm tiền mặt lƣu thông dẫn đến tiết kiệm chi phí lƣu thông tiền mặt. Chức năng tạo ra tiền NH trong hệ thống NH hai cấp Quá trình tạo tiền của NHTM đƣợc thực hiện thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán trong hệ thống NH, trong mối liên hệ chặt chẽ với hệ thống NH trung ƣơng.
Với khoản tiền gửi nhận đƣợc ban đầu, hệ thống NHTM thông qua quá trình cho vay bằng chuyển khoản, kết hợp với thanh toán không dùng tiền mặt, có khả năng mở rộng tiền gửi không kỳ hạn gấp nhiều lần, do đó tạo thêm “bút tệ” cho lƣu thông. Chức năng làm dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác NH có thể làm tƣ vấn về tài chính và đầu tƣ cho các DN, làm đại lý phát hành cổ phiếu, trái khoán bảo đảm đạt hiệu quả cao và tiết kiệm chi phí. Ngoài ra, NH còn cung cấp dịch vụ lƣu trữ và quản lý chứng khoán cho khách hàng, làm dịch vụ thu lãi chứng khoán, chuyển lãi đó vào tài khoản cho khách hàng, hoặc có khi NHTM còn thực hiện việc mua, bán các chứng khoán cho khách hàng, thu hồi chứng khoán đến hạn… Hơn nữa, NH còn cung cấp cho khách hàng các dịch vụ khác nhƣ: Dịch vụ bảo quản an toàn vật tƣ có giá của khách hàng. Dịch vụ bảo quản an toàn vật có giá bao gồm: dịch vụ cho thuê két sắt, bảo quản ký thác và trực tiếp bảo quản an toàn các giấy tờ có giá.
Dịch vụ cho thuê két ngân buổi tốt (Night safe): NH lắp đặt hệ thống két đặc biệt trƣớc cửa NH, khách hàng thuê dịch vụ này đƣợc phép cất giữ tiền mặt hay séc để đảm bảo an toàn vào buổi tối khi NH đã đóng cửa. Dịch vụ tín thác hoặc ủy thác Ngân hàng (Trust services) f. Chức năng tài trợ ngoại thƣơng, mở rộng nghiệp vụ NH quốc tế Một trong những chức năng quan trọng nhất do các NH thực hiện trong việc tham gia vào nghiệp vụ NH quốc tế là tài trợ xuất nhập khẩu và nền thƣơng mại giữa các quốc gia. Giống nhƣ thƣơng mại trong nƣớc, hoạt động ngoại thƣơng đòi hỏi các phƣơng pháp tài trợ khác nhau, hoạt động ngoại thƣơng bao gồm ứng tiền trƣớc, tài khoản mở, ủy thác, nhờ thu và thƣ tín dụng, tín dụng chiết khấu hối phiếu, bảo lãnh, mua và bán séc du lịch…).
Ngoài ra, các NHTM mở rộng nghiệp vụ NH quốc tế để phục vụ cho những khách hàng nƣớc ngoài đầu tƣ vào trong nƣớc cũng nhƣ những khách hàng nội địa muốn mở rộng HĐKD ra nƣớc ngoài [2]. Đặc điểm hoạt động của NHTM NH thƣơng mại là một tổ chức tín dụng thực hiện các nghiệp vụ tài chính nhằm hỗ trợ cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu vay và cho vay với mục đích thu lợi nhuận. NH thƣơng mại có các nghiệp vụ chính nhƣ sau: 8 Nghiệp vụ nguồn vốn (Tài sản Nợ - Nguồn vốn): Nghiệp vụ huy động nguồn vốn là hoạt động tiền đề có ý nghĩa đối với bản thân NH cũng nhƣ đối với xã hội. Trong nghiệp vụ này, NH thƣơng mại đƣợc phép sử dụng những công cụ và biện pháp cần thiết mà luật pháp cho phép để huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng để cho vay đối với nền kinh tế.
Thành phần nguồn vốn của NH thƣơng mại gồm: - Vốn điều lệ (Statutory Capital) - Các quỹ dự trữ (Reserve funds) - Vốn huy động (Mobilized Capital) - Vốn đi vay (Bonowed Capital) - Vốn tiếp nhận (Trust capital) - Vốn khác (Other Capital) Nghiệp vụ sử dụng vốn (cấp tín dụng và đầu tƣ): Nghiệp vụ cho vay và đầu tƣ là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất, quyết định đến khả năng tồn tại và hoạt động của NH thƣơng mại. Đây là các nghiệp vụ cấu thành bộ phận chủ yếu và quan trọng của tài sản Có của NH. Thành phần “Tài sản có” của NH bao gồm: + Dự trữ (Reserves) + Cho vay (loans) + Đầu tƣ (Investment) + Tài sản Có khác (Other Assets) Nghiệp vụ trung gian: Những dịch vụ NH ngày càng phát triển vừa cho phép hỗ trợ đáng kể cho nghiệp vụ khai thác nguồn vốn, mở rộng các nghiệp vụ đầu tƣ, vừa tạo ra thu nhập cho NH bằng các khoản tiền hoa hồng, lệ phí… có vị trí xứng đáng trong giai đoạn phát triển hiện nay của NH thƣơng mại. Các hoạt động này gồm: - Các dịch vụ thanh toán thu chi hộ cho khách hàng (chuyển tiền, thu hộ séc, dịch vụ cung cấp thẻ tín dụng, thẻ thanh toán.