Chương 1: Co sở lý luận và thực tiễn về quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài Chương 2: Thực trạng quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Sê Kông, nước CHDCND Lào. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Sê Kông, 6. Tổng quan nghiên cứu Cơ sở lý luận cơ bản của đề tài được dựa trên các nghiên cứu đầu ngành về lý thuyết đầu tư trực tiếp nước ngoài, như lý thuyết về lợi nhuận cận biên, chu kỳ sản phẩm, lý thuyết về sự không hoàn hảo của thị trường và lý thuyết chiết trung. Giáo trình Kinh tế đầu tr của Quang Phương, Phạm Văn Hùng (2012) Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà nội, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân.
Giáo trình đã cung cấp nhiều kiến thức về đầu tư như: Những vấn dé co ban của đầu tư và phát triển, nguồn vốn đầu tư, quản lý và kế hoạch hóa đầu tư, phương pháp lập dự án đầu tư, thâm định dự án đầu tư. Trong nội dung chương thứ 4 - Quản lý và Kế hoạch hóa đầu tư, tác giả cũng đưa ra định nghĩa: Quản lý đầu tư là sự tác động liên tục, có tô chức, có định hướng của chủ thể quản lý vào quá trình đầu tư bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp kinh tế - xã hội và tổ chức kỹ thuật cùng các biện pháp khác nhằm đạt được hiệu quả KT-XH cao nhất trong điều kiện cụ thể. Nội dung chương này cũng trình bày phân cấp quản lý từ trung ương đến địa phương trong quản lý đầu tư. Đây là những kiến thức hữu ích cho quá trình thực hiện luận văn.[9] Giáo trình Quản lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, Chủ biên PGS.TS Trang Thị Tuyết, Học viện hành chính, NXB Khoa học và Kỹ thuật (2011) trong đó đã làm rõ các khái niệm về đầu tư, quản lý nhà nước về đầu tư, nội dung của quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư (chương 4) [21] Dumning (1983) với lý thuyết chiết trung hay mô hình OLI đã chỉ ra một công ty dự định tham gia vào các hoạt động FDI cần có 3 lợi thế: lợi thế về sở hữu (tài sản, tối thiểu hóa chỉ phí giao dịch); lợi thế về khu vực (tài nguyên của đất nước, qui mô và sự tăng trưởng của thị trường, sự phát triển của cơ sở hạ tầng, chính sách của Chính phủ) và lợi thế về nội hóa (giảm chỉ phí ký kết, kiểm soát và thực hiện hợp đồng; tránh được sự thiếu thông tin dẫn đến chỉ phí cao cho các công ty; tránh được chỉ phí thực hiện các bản quyền phát minh, sang ché).
Sau đầu tư, cả hai nước trên đều thu được lợi nhuận và làm cho sản lượng chung của thể giới tăng lên so với trước khi đầu tư. Norkeo Kommadam (2010) “Pháp luật về đảm bảo đầu tư trực tiếp nước ngoài tại CHDCND Lào - thực trạng và phương hướng hoàn thiện” Luận văn thạc sỹ kinh tế Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội [12] Xomxay Nhachack (2006), Giáo trình “Hoàn thiện pháp luật kinh tế trong quá trình đổi mới quản lý kinh tế của Lào”. NXB thủ đô Vieng chan. Và một số bài viết khác về vấn đề đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các tỉnh của nước Lào [22].
Nguyễn Văn Thắng: “Vai trò của chính phủ Thailand, Trung Quốc trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp vào CHDCND Lào - Bài học cho Việt Nam” (Trường Đại Học Sư Phạm, Đại Học Huế) đăng trên Tạp Chí Khoa Học, Đại Học Huế số 62A,2010. Tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu vấn đề về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp tại tỉnh Champasak nhằm góp phần nâng cao việc quản lý nguồn vốn này vào việc phát triển nền kinh tế nói chung và ngành công nghiệp nói riêng của tỉnh Champasak [11] 'Vilayvong Butdakham (2010) “Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong phát triển kinh tế - xã hội của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào”, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh. Nghiên cứu thực trạng FDI tại CHDCND Lào được phân tích theo một hướng mới: Bắt đầu nghiên cứu từ hệ thống chính sách thu hút FDI là một phương pháp phù hợp với đặc thù đổi mới kinh tế của CHDCND Lào. Qua đó, những đổi mới từ hệ thống thể chế và những thay đổi của thực trạng thu hút FDI của CHDCND Lào có được mối liên hệ chặt chẽ, gắn bó.
Bên cạnh đó, những đóng góp của FDI đến nền kinh tế của CHDCND Lào được phân tích dựa trên những đánh giá mối liên hệ giữa đổi mới thẻ chế và đổi mới thực trạng thu hút FDI [31] Đề tài có sự tiếp thu những thành tựu của các nghiên cứu đi trước trong. cùng lĩnh vực, đồng thời có sự kết hợp và bỗ sung dé phù hợp với điều kiện hoàn cảnh kinh tế - xã hội CHDCND Lào nói chung và ở địa phương nói riêng, bởi vì, cho đến nay, vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài vào sê Kông cho tăng trưởng và phát triển kinh tế một cách có hệ thống dưới giác độ của một luận văn hay luận án chuyên ngành Quản Lý kinh tế. Do vậy, việc nghiên cứu thực trạng và đưa ra giải pháp nhằm tăng cường quản lý đầu tư trực tiếp cho phát triển kinh tế ở Sê Kông hiện nay là vấn đề rất cần thiết. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE QUAN LÝ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1.
KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. Khái niệm về quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài a. Đầu từ trực tiếp nước ngoài - Đầu tư Có rất nhiều quan niệm về đầu tư, ở mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau các nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm về đầu tư có nhiều điểm khác hình như: Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), đầu tư là “hành động bỏ vốn vào doanh nghiệp, một công trình hay một sự nghiệp bằng nhiều biện pháp như cấp ngân sách, vồn tự có, liên doanh hay vay dài hạn đề mua sắm thiết bị mới, hoặc thực hiện việc hiện đại hóa, mở rộng xí nghiệp nhằm thu doanh lợi hay phát triển phúc lợi công cộng” [16]. Cách định nghĩa này nhắm mạnh vào đầu tư phát triển, vào hình thái biểu hiện và động lực của đầu tư, nhưng không.
làm rõ bản chát cũng như chưa phản ánh được nội dung đầy đủ của đầu tư. Theo Nguyễn Ngọc Mai với Giáo trình Kinh tế đầu tư thì “Đầu tư là sự bỏ ra, sự hy sinh những cái gì đó ở hiện tại (tiền, sức lao động, của cải vật chất trí tuệ) nhằm đạt được kết quả có lợi ích cho người đầu tư trong tương lai”. Định nghĩa này nêu được đặc tính khái quát của đầu tư là hành vi bỏ vốn trong hiện tại nhằm đạt được lợi ích trong tương lai. Tuy nÌ cách tiếp cận của định nghĩa này rộng dễ gây nhằm lẫn giữa hành vi lao đồng bình thường với hành vi đầu tư thực sự của chủ đầu tư [10, tr.
Theo luật đầu tư năm 2005 của Việt Nam: Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến 10 hành các loại hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Về mặt khoa học, cách định nghĩa này quá chung chung va tring lập. Dù có nhiều định nghĩa về đầu tư tùy thuộc và quan điểm và góc nhìn của mỗi nhà nghiên cứu. Nhưng có thể hiểu “Đầu tư là hoạt động sử dụng tiền vốn, tài nguyên để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu vẻ lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội”.
- Khái niệm Đầu tư trực tiếp nước ngoài: Đầu tu truc tiép nude ngoai (Foreign Direct Investment - FDI): Đây là nguồn vốn do các nhà đầu tư nước ngoài dem vốn vào một nước để đầu tư trực tiếp bằng việc tạo ra những doanh nghiệp. FDI đã và đang trở thành hình thức huy động vốn nước ngoài phổ biến của nhiều nước đang phát triển khi mà các luồng dịch chuyển vốn từ các nước phát triển đi tìm cơ hội đầu tư ở nước ngoài để gia tăng khai thác về lợi thế so sánh. FDI là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của 1 nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền kiểm soát, quản lí doanh nghiệp thực su. (Theo IMF) - Phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài: Theo Vũ Chí Lộc (2012), có thể Phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau : © FDI theo hình thức thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn từ nhà đầu tư nước ngoài.
e Đầu tư trực tiếp theo hình thức thành lập doanh nghiệp liên doanh giữa. nhà đầu tư trong nước hoặc Chính phủ trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Đầu tư theo hình thức hợp đồng PPP: nhà đầu tư nước ngoài khi tiến hành hoạt động đầu tư theo hình thức này có thê ký kết các loại hợp đồng như hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC), hợp đồng xây dựng - kinh doanh - 11 chuyển giao (BOT), hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO) hoặc hợp đồng xây dựng - chuyén giao (BT). + BCC là hình thức đầu tư được ký kết giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh, phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân mới.
Hình thức đầu tư này giúp các nhà đầu tư tiến hành hoạt động. đầu tư được nhanh chóng mà không không mất thời gian, tiền bạc để thành lập và quản lý một pháp nhân mới. + BOT, BTO là hình thức đầu tư được ký kết giữa nhà đầu tư với cơ quan nhà nước có thâm quyền để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, trong BOT nhà đầu tư nước ngoài được kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng đó trong một thời gian nhất định sau đó chuyển giao không hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; BTO thì nhà đầu tư chuyển giao công trình xây dựng cho Nhà nước khi xây dựng xong, Chính phủ sẽ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận. + BT là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nha nước có tham quyền.