Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý chỉ ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản. Thực trạng công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định giai đoạn 2014 - 2018. Giải pháp hoàn thiện quản lý chỉ NSNN trong đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định.
12 CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LY CHI NGAN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN 1. TONG QUAN VE QUAN LY CHI NGAN SACH NHA NUGC TRONG DAU TU XDCB 1. Một số khái niệm * Khái niệm Chỉ ngân sách nhà nước: Chỉ ngân sách nhà nước là việc phân phối và sử dụng quỳ ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của nhà nước theo những nguyên tắc nhất định. Thực chất chỉ ngân sách Nhà nước chính là việc cung.
cấp các phương tiện tài chính cho các nhiệm vụ của Nhà nước [14]. * Khái niệm đầu tư xây dựng cơ bản Đối với quan niệm về đầu tư, các lĩnh vực như kinh tế, xã hội, luật pháp. lại có những cách tiếp cận khác nhau. Với phương diện kinh tế, thuật ngữ đầu tư dùng để nói về việc bỏ ra các nguồn lực ở hiện tại đẻ tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho.
người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt kết quả đó. Nói cách khác, đầu tư là quá trình vận dụng, sử dụng. những nguồn lực sẵn có ở hiện tại để đem lại những kết quả lớn hơn nguồn lực đã sử dụng, thu lại những kết quả tích cực về cả kinh tế và xã hội [15]. Với phương diện pháp luật, khoản 5 Điều 3 Luật Đầu tư 2014 đã nêu rõ “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư đề thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vồn, mua cổ phân, phần vốn góp của tô chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư”.
Còn theo Điều 4 của Luật Đầu tư công 2014 thì “Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đâu tư vào các chương trình, dự 13 án phục vụ phát triển kinh tế xã hội” Như vậy, dù duge hiéu theo bất kỳ cách tiếp cận nào, về cả nghĩa hẹp hay nghĩa rộng, thì đầu tư hay đầu tư công đều đề cập tới công tác sử dụng nguồn vốn hiện có để xây dựng mới, mở rộng hay cải tạo những cơ sở vật chất nhất định với mục đích thu được tăng trưởng về số lượng hay duy trì hoặc cải tiến, nâng cao chất lượng, giá trị của sản phẩm. hay dịch vụ trong một khoảng thời gian đã được xác định. Theo Luật đầu tư của Việt Nam: “Đâu 0 là việc nhà đâu tư bỏ vốn bằng các loại tài sẵn hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đâu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan” [1]. Xây dựng là công tác vốn được thực hiện đề tạo ra các công trình mới nhằm phục vụ cho các hoạt động, mục đích không chỉ thuộc về lĩnh vực kinh tế mà còn phục vụ đời sống xã hội như cầu, đường, công trình thủy lợi, nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện, cơ quan.
Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi các vật liệu, thiết bị xây dựng và cả bằng lao động. Công trình xây dựng là thành quả của các công nghệ trong xây lắp gắn bó mật thiết với không chỉ đất đai mà còn cả với khoảng không, mặt nước, mặt biển và cả thềm lục địa. Các công trình xây dựng cũng đồng thời là thành quả của quá trình vốn đầu tư được sử dụng cho các công trình đó. Xây dung cơ bản là xây dựng hạ tầng cơ sở, hạ tầng kỹ thuật cho kinh tế - xã hội nhằm mục đích phục vụ phát triển kinh tế như các công trình xây dựng các công trình giao thông, cầu cảng, thủy điện, thủy lợi, nhà máy, công sở, nhà cửa.; cũng như các mục đích phục vụ phát triển xã hội như nhà văn hóa, công viên và các công trình phúc lợi xã hội khác [6] Xây dụng cơ bản là hoạt động có chức năng tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản có định có tô chức sản xuất và không có tổ chức.
sản xuất các ngành kinh tế thông qua các hoạt động xây dựng mới, xây dựng 14 mở rộng, xây dựng lại, hiện đại hoá hay khôi phục các tài sản cố định. Đầu tư xây dựng cơ bản là các hoạt động đầu tư có mục đích tạo ra các tài sản cố định. Trong quá trình đầu tư, các yếu tố cần được các nhà đầu tư chú trọng đến là: sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động. Các tư liệu lao động (như nhà máy, nhà xưởng, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải.) là những phương tiện vật chất được con người sử dụng đề tác động vào.
các đối tượng lao động (như nguyên vật liệu, sản phẩm dé dang, bán thành phẩm. đổi các đối tượng lao động theo nhu cầu sử dụng của mình. Tài sản cố định là bộ phận quan trọng nhất trong các loại tư liệu lao động, vì đây là tư liệu lao động được sử dụng chủ yếu không chỉ trực tiếp mà cả gián tiếp trong suốt quá trình kinh doanh. Các tài sản cố định này bao gồm thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải, nhà xưởng, các công trình kiến trúc khác và cả tài sản cố định vô hình.
Để được coi là một tài sản cố định, một tư liệu lao động phải thỏa mãn cả hai điều kiện cơ bản là: có thời gian sử dụng tối thiểu và có giá trị tối thiểu ở một mức nhất định. Mỗi quốc gia lại có một qui định riêng sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế tại nước mình cũng như từng thời kỳ thực tiễn. Nếu có tư liệu lao động không thể thỏa mãn đồng thời hai điều kiện nêu trên, chúng sẽ được xếp vào danh mục công cụ lao động nhỏ và được mua bằng vốn lưu động. Còn tài sản cố định sau đó sẽ được chia thành hai loại là tài sản cố định hữu hình (là tài sản có hình thái vật chất) và tài sản cố định vô hình (là tài sản cố định không có hình thái vật chất).
Khái niệm đầu tư XDCB theo Luật xây dựng của Việt Nam (2014): Dự án đầu tư XDCB là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn đề tiến hành hoạt động xây dựng để xây mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chỉ phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu 15 tư xây dựng, báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc báo cáo kinh tế ~ kỹ thuật đầu tư xây dựng [14] Một trong những đặc thù riêng của xây dựng cơ bản chính là ích lợi mà nó đem lại có thê phục vụ cho mọi tầng lớp nhân dân, mọi ngành nghề trong xã hội. vậy, nó thường đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn và cả sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước. Đầu tư xây dựng cơ bản được Nhà nước giảnh sự quan tâm lớn trong các năm qua, đặc biệt trong quá trình đây mạnh công nghiệp hóa — hiện đại hóa đất nước.
Hàng chục ngàn tỷ đồng được Nhà nước chỉ ra mỗi năm đề đầu tư xây dựng cơ bản. Đầu tư của Nhà nước trong xây dựng cơ bản chiếm tỷ trọng lớn và có tầm ảnh hưởng không thể phủ nhận trong toàn bộ hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản trên lãnh thổ Việt Nam. Thành quả của quá trình đầu tư xây dựng do Nhà nước là các công trình như nhà máy, đường giao thông, cầu cảng. có vị trí chiến lược và ý nghĩa quan trọng, mang tới cả các lợi ích về kinh tế và xã hội thiết thực.
Mục đích của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản là tạo ra các tài sản cố định. Xây dựng cơ bản, bao gồm cả các bước như khảo sát, thì , Xây dựng, lắp đặt chỉ là một bước thuộc đầu tư xây dựng cơ bản. Đầu tư xây dựng cơ bản là một lĩnh vực kinh tế đặc biệt với những công trình có qui mô từ lớn đến rất lớn và có thời gian thực hiện đầu tư dài (từ vài năm trở lại, thậm chí lên tới cả vài chục năm). Một công trình đầu tư xây dựng thường đòi hỏi một lực lượng vật chất lớn, kết cấu xây dựng đa dạng, phức tạp cũng như sự phối hợp tham gia của nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau (như xây dựng, thủy lợi, giao thông, công nghiệp, chế tạo vật liệu.
Bên cạnh đó, đầu tư vào. các công trình xây dựng đòi hỏi nhiều giai đoạn tiến hành phải được đảm bảo. thực hiện theo các bước chặt chẽ, từ lập dự án, khảo sát, thiết kế cho đến lựa chọn nhà thầu thực hiện thi công và cuối cùng là nghiệm thu, đưa công trình vào khai thác sử dụng thực tế. Tắt cả các giai đoạn này đều có mối liên hệ mật 16 thiết, tác động lẫn nhau và không thể bỏ qua bắt cứ một giai đoạn nào trong công tác thực hiện, nhằm đảm bảo cho công trình đầu tư xây dựng có được chất lượng cũng như tiến độ thi công đáp ứng yêu cầu.
* Khái niệm chỉ đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước Chi ngân sách nhà nước là hoạt động phân phối và sử dụng quỹ ngân sách của Nhà nước theo những quy tắc, nguyên tắc nhất định cho mục đích thực hiện các chức năng nhiệm vụ mà Nhà nước giao{ I8]. Trong toàn bộ các hoạt động của ngân sách nhà nước, không thể phủ nhận tầm quan trọng của quá trình chỉ ngân sách. Chi ngân sách nhà nước là sự phối hợp của quá trình phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước. Quá trình phân phối quỹ ngân sách của Nhà nước là quá trình thành lập và phân bổ dự toán của quỹ ngân sách nhà nước.
Đây là quá trình hình thành nên các loại quỹ trước khi được đưa vào sử dụng. Số lượng cũng như tỷ trọng của từng loại quy được phân bổ theo chức năng cũng như vai trò của Nhà nước theo.