Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý chỉ ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản. Chương 2: Thực trạng quản lý chỉ NSNN trong đầu tư XDCB trên địa bàn huyện Kon Plông. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chỉ NSNN trong đầu tư XDCB trên địa bàn huyện Kon Plông. 12 CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LY CHI NGAN SACH NHA NƯỚC TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN 1.
TONG QUAN VE CHI NGAN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐÀU TU XAY DUNG CO BAN 1. Ngân sách nhà nước Ngân sách, theo nghĩa chung nhất, là một quỹ tiền tệ tập trung mà chủ nhân của nó phải tính toán đề thu và chỉ luôn cân đối với nhau trong một thời hạn nhất định. Bất kỳ một chủ thể nào tiến hành hoạt động đầu tư cũng đều phải có ngân sách, tức có tiền và có kế hoạch thu, chỉ hợp lý để đạt được hiệu qua để ra. Tính cân đối, thu chỉ có kế hoạch là nguyên tắc vận hành then chốt của ngân sách.
Trong khái niệm này, NSNN bao gồm hai nội dung chính (thu NSNN, chỉ NSNN) và một nội dung phát sinh (cân đối NSNN), được xây dựng và thực hiện trong một khoảng thời gian xác định (ngắn hạn là một năm, trung hạn cóthể là 3-5 năm). Đầu tư XDCB và Vốn dau tw XDCB Theo đúng nghĩa thông thường nhất thi *đầu” là bỏ vào, đặt vào; “tu” La 13 tư bản, là vốn. Đầu tư là bỏ tư bản, vốn vào một hoạt động nào đó. đầu tư là hoạt động có những đặc trưng sau đây: Có sự chỉ pl tệ hoặc vật chất, có tác dụng tạo nên phương tiện để đạt được mục đích nào đó.
Mục đích đạt được có thẻ là mục đích kinh tế hoặc chính trị, xã hội, văn hóa, y tế, giáo dục.[24] Theo Luật đầu tư của Việt Nam (2005): “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ. vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình đẻ hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”.[24] Mặc dù các khái niệm trên có diễn giải khác nhau nhưng chúng cùng thống nhất một nghĩa: đầu tư là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động nhất định, hy vọng thu được những kết quả và đạt được những mục tiêu nhất định trong tương lai. Khái niệm đầu tư XDCB theo Luật xây dựng của Việt Nam (2014): Dự án đầu tư XDCB là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng đề xây mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chỉ phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc báo cáo kinh tế - kỹ thuật u tư xây dựng [24] Tóm lại, đầu tư XDCB là một bộ phận của hoạt động đầu tư, đó là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động XDCB nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các TSCĐ nhằm phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân.
Vến đầu tư XDCB 'Vốn đầu tư là biểu hiện bằng tiền hoặc các vật chất khác có giá trị như 14 tiền của các phương tiện hành động mà người theo đuổi mục đích đầu tư phải ứng trước đề tổ chức quá trình thực hiện của minh. Ban chat của vốn đầu tư là công cụ được ân dưới biểu hiện tiền tệ, là hình thái tiền tệ của phương tiện hành động mà con người hành động đang cần để đạt được mục đích. Để tiến hành bất kỳ hành động nào con người đều phải dùng phương tiện. Đề có phương tiện con người phải tạo ra các phương tiện đó.
Phương tiện có nhiều loại từ đơn giản dễ kiếm, dễ tạo đến phức tạp, khó tự tạo được. Đối với loại đơn giản, người hành động có thể tự tạo ra sản phẩm cho mình; nhưng đối với những loại phương tiện phức tạp, không dễ tự tạo và chỉ những nhà chuyên môn mới có thể tạo nôi thì người hành động phải mua, mua muốn mua phải có tiền. Tiền đó gọi là vốn đầu tư. Công cụ sử dụng trong quản lý chỉ NSNN trong đầu tư XDCB là các định mức và chế độ chỉ.
Chế độ chỉ quy định chỉ được chỉ NSNN cho những. hoạt động được pháp luật quy định. Định mức chỉ quy định quy mô chỉ NSNN trong đầu tư XDCB cho từng hoạt động xác định. Chỉ NSNN trong đầu tư XDCB.
Khái niệm Chỉ ngân sách Nhà nước trong đầu tư XDCB là quá trình phân phối và sử dụng một phần vốn tiền tệ từ quỹ NSNN để đầu tư tái sản xuất TSCĐ nhằm từng bước tăng cường, hoàn thiện và hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất phục vụ trên địa bàn địa phương [25] 15 b. Đặc điểm * Đặc điểm chung: - Chỉ NSNN gắn chặt với bộ máy Nhà nước và những định hướng phát triển kinh tế xã hội đặt ra trong từng thời kỳ. - Các khoản chỉ của NSNN được đánh giá một cách toàn diện dựa trên cơ sở của việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội đã đề ra. - Các khoản chỉ của NSNN mang tính chất không hoàn trả trực tiếp.
* Đặc điểm riêng: - Chỉ NSNN trong đầu tư XDCB là khoản chỉ lớn của NSNN nhưng không có tính ồn định. Chỉ đầu tư XDCB là khoản chỉ tất yếu nhằm đảm bảo. sự phát triển kinh tế - xã hội cho mỗi quốc gia nói chung và từng địa phương nói riêng. Trước hết chỉ NSNN cho đầu tư XDCB nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, tạo nền tảng đề đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội.
Quy mô chỉ NSNN trong đầu tư XDCB phụ thuộc vào định hướng phát triển của từng địa phương và không có tính ổn định giữa các thời Ỳ. - Chỉ đầu tr XDCB gắn liền với đặc điểm của đầu tư XDCB: Nguồn vốn NSNN được chỉ để đầu tư XDCB do đó nó gắn liền với đặc điểm của đầu tư XDCB. Đối tượng quản lý chỉ NSNN và đối tượng thực thi đầu tr XDCB tác bạch nhau nên có thể dẫn đến sự không đồng nhất về hiệu quả mà người quản lý chỉ NSNN hướng đến. Đồng thời, quản lý chỉ NSNN trong đầu tư XDCB được phân cấp nhiều trong quản lý, qua nhiều khâu, nhiều cơ quan quản lý lại mang tính sở hữu chung nên khó xác định được thất thoát xảy ra là ở khâu nào.
Điều này đòi hỏi trách nhiệm quản lý chỉ NSNN trong đầu tư XDCB phải được phân định rõ ràng, tránh chồng chéo. Nội dung của chi NSIVN trong đầu tư XDCB - Chi NSNN cho các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh không có khả năng thu hồi vốn thuộc địa phương quản lý như: 16 các dự án giao thông, thủy lợi, giáo dục va dao tao, y tế, trồng rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, khu bảo tồn thiên nhiên, các trạm trại thú y, nghiên ng mới và cải tạo giống, công trình văn hóa xã hội, thể dục thẻ thao, phúc lợi công cộng, quản lý nhà nước, khoa học kỹ thuật. - Các dự án đầu tư của các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật được NSNN. - Các dự án quy hoạch tổng thẻ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
như: quy hoạch khu công nghiệp, quy hoạch nông thôn, - Các dự án đầu tư XDCB khác theo quyết định của Trung ương, chính quyền địa phương. Vai trò của chỉ NSNN trong đầu tr XDCB Mặt trái của cơ chế thị trường là các cá nhân, tổ chức kinh tế sẽ không đầu tư vào lĩnh vực không lợi nhuận hoặc lợi nhuận không cao, trong khi đó đầu tư XDCB lại rất cần thi cho phát triển kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội, vì vậy chỉ có chỉ đầu tr XDCB từ NSNN mới có thể thực hiện được vai trò quan trọng này. Đầu tư XDCB đóng vai trò quan trọng trên mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng của mỗi quốc gia. Thứ nhất, về mặt kinh tế: Chỉ đầu tư XDCB góp phần tạo các nhà xưởng mới, thiết bị công nghệ, dây chuyển sản xuất mới, hiện đại hoặc mở rộng, cải tạo những nhà máy cũ[20].
Từ đó tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, mở rộng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Do đó, nâng cao hiệu quả sản xuất ở cơ sở góp phần phát triển kinh tế. Đầu tư nói chung và đầu tư XDCB nói riêng tác động đến tổng cầu và tổng cung của xã hội. Qua đó tác động đến sự ồn định, tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế.
Đầu tư thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu toàn bộ nên kinh tế. Đầu 17 tư làm cho tổng cầu tăng theo. Chính vì vậy mà Chính phủ đã sử dụng đầu tư như là một trong những biện pháp kích cầu. Chỉ dau tu XDCB tir NSNN sé tạo ra hạ tầng kinh tế kỹ thuật tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh từ đó thu hút đầu tư, thúc đây phát triển kinh tế.
Thứ hai, về mặt chính trị, xã hội: Chỉ đầu tư XDCB từ NSNN tạo điều kiện xây dựng hạ tầng cơ sở cho các vùng có điều kiện KTXH khó khăn tạo. điều kiện phát triển kinh tế ở các vùng này từ đó tăng thu nhập, cải thiện đời sống người dân, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng ở địa phương. Đồng thời, chỉ đầu tư XDCB cũng tập trung vào các công trình văn hóa dé duy trì truyền thống văn hóa của địa phương, của quốc gia; đầu tư vào truyền thông như phát thanh, truyền hình nhằm thông tin những chính sách, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến nhân dân, tạo điều kiện ổn định chính trị của quốc gia; đầu tư XDCB trong lĩnh vực y tế góp phần chăm sóc sức khỏe của người dân và các dịch vụ công cộng khác cho cộng đồng. Thứ ba, về mặt an ninh, quốc phòng: Kinh tế ôn định và phát triển, các lên quan trọng cho mặt chính trị, xã hội được củng có và tăng cường là điề ổn định an ninh, quốc phòng [29].