Luận văn: Quản lý chi ngân sách trong đầu tư XDCB tại huyện Kon Plông

Luận văn thạc sĩ kinh tế nghiên cứu quản lý kinh tế quản lý chi ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn huyện, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

119
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Vai trò quản lý chi ngân sách XDCB tại huyện Kon Plông

Quản lý chi ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) là một nhiệm vụ trọng yếu, đặc biệt tại các địa phương miền núi như huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum. Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước đóng vai trò then chốt trong việc hình thành và phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, tạo đòn bẩy cho tăng trưởng bền vững. Luận văn thạc sĩ của tác giả Ngô Tấn Khương (2020) đã chỉ rõ, hàng năm, ngân sách nhà nước dành khoảng 30% tổng chi cho lĩnh vực đầu tư XDCB, cho thấy tầm quan trọng của hoạt động này. Tại Kon Plông, một huyện nghèo theo Nghị quyết 30a, nguồn vốn này càng có ý nghĩa quyết định trong việc cải thiện hệ thống giao thông, kỹ thuật, và các công trình công cộng. Việc nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách không chỉ là yêu cầu về mặt kinh tế mà còn là yếu tố ổn định chính trị - xã hội. Một cơ chế quản lý vốn đầu tư minh bạch, hiệu quả sẽ giúp tối ưu hóa nguồn lực hạn hẹp, ngăn chặn tình trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư công, và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương Kon Tum. Quá trình quản lý này bao gồm nhiều giai đoạn phức tạp, từ lập dự toán, chấp hành chi, đến quyết toán dự án hoàn thành và thanh tra, giám sát. Mỗi giai đoạn đều đòi hỏi sự tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Luật Đầu tư côngLuật Ngân sách Nhà nước, cũng như sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng như Phòng Tài chính - Kế hoạch, Kho bạc Nhà nước huyện Kon Plông, và các Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng. Do đó, việc nghiên cứu và hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trong đầu tư XDCB tại Kon Plông là vấn đề cấp thiết, mang ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, góp phần sử dụng đồng vốn của nhà nước một cách hiệu quả nhất.

1.1. Tầm quan trọng của vốn ngân sách trong phát triển hạ tầng

Vốn ngân sách nhà nước là nguồn lực chính yếu để kiến tạo và hoàn thiện cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội tại huyện Kon Plông. Với đặc điểm địa hình đồi núi phức tạp, hệ thống giao thông còn nhiều khó khăn, đầu tư vào các công trình đường liên xã, nội thôn là ưu tiên hàng đầu. Theo báo cáo giai đoạn 2016-2018, huyện Kon Plông đã phân bổ một tỷ trọng lớn ngân sách cho ngành công nghiệp - xây dựng nhằm nâng cấp hạ tầng. Các khoản chi này không chỉ giúp cải thiện việc đi lại, giao thương mà còn là yếu tố tiên quyết để thu hút đầu tư, thúc đẩy các ngành kinh tế mũi nhọn như nông nghiệp công nghệ cao và du lịch sinh thái. Bên cạnh đó, vốn đầu tư công còn được dùng để xây dựng các công trình phúc lợi xã hội như trường học, trạm y tế, góp phần nâng cao chất lượng đời sống người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số chiếm đa số (khoảng 90%).

1.2. Khung pháp lý điều chỉnh Luật Đầu tư công và Luật Ngân sách

Hoạt động quản lý chi ngân sách cho đầu tư XDCB chịu sự chi phối chặt chẽ của một hệ thống văn bản pháp luật, trong đó nền tảng là Luật Đầu tư côngLuật Ngân sách Nhà nước. Các luật này quy định rõ ràng về quy trình, nguyên tắc và trách nhiệm của các bên liên quan. Cụ thể, việc lập dự toán, phân bổ ngân sách cho đầu tư phát triển phải tuân thủ các điều kiện bố trí vốn, phù hợp với quy hoạch và kế hoạch tài chính trung hạn. Kiểm soát chi ngân sách nhà nước được thực hiện thông qua Kho bạc Nhà nước, đảm bảo các khoản chi đúng mục đích, đúng đối tượng và đầy đủ thủ tục. Việc tuân thủ nghiêm ngặt khung pháp lý này là cơ sở để đảm bảo tính minh bạch, hiệu quả và ngăn ngừa các hành vi tiêu cực trong quản lý tài chính công.

II. Thách thức trong quản lý vốn đầu tư công tại Kon Plông

Mặc dù đã đạt được những kết quả tích cực, công tác quản lý vốn đầu tư công tại huyện Kon Plông giai đoạn 2016-2018 vẫn đối mặt với nhiều tồn tại và thách thức. Thực trạng quản lý tài chính công cho thấy nhiều bất cập cần được khắc phục. Một trong những vấn đề nổi cộm là tiến độ giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản còn chậm, gây ảnh hưởng đến hiệu quả chung của các dự án. Tình trạng nợ đọng trong xây dựng cơ bản vẫn còn tồn tại, làm giảm động lực của các nhà thầu và có thể dẫn đến việc thi công kéo dài, kém chất lượng. Theo luận văn của Ngô Tấn Khương, nguyên nhân của những hạn chế này đến từ cả yếu tố chủ quan và khách quan. Về chủ quan, năng lực của một số chủ đầu tư và Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng còn hạn chế. Công tác lập, thẩm định dự án đôi khi chưa sát với thực tế. Về khách quan, một số cơ chế chính sách còn thiếu đồng bộ, gây vướng mắc trong quá trình thực hiện. Tình trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư công tuy đã được kiểm soát nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Đặc biệt, công tác giám sát và đánh giá đầu tư chưa phát huy hết hiệu quả, việc thanh tra, kiểm tra đôi khi còn mang tính hình thức. Công tác quyết toán dự án hoàn thành cũng là một khâu yếu, thường xuyên chậm trễ, gây khó khăn cho công tác tổng kết và hoạch định chính sách cho các giai đoạn tiếp theo. Việc giải quyết triệt để những thách thức này đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, từ đó mới có thể nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách một cách bền vững.

2.1. Phân tích thực trạng giải ngân vốn và nợ đọng XDCB

Tình hình giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại Kon Plông trong giai đoạn nghiên cứu chưa đạt như kỳ vọng. Dữ liệu từ Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện cho thấy tỷ lệ giải ngân ở một số dự án còn thấp, thanh toán vốn còn chậm. Nguyên nhân chính bao gồm các vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng, năng lực thi công của một số nhà thầu chưa đảm bảo, và thủ tục hành chính còn phức tạp. Hệ quả là tình trạng nợ đọng vốn đầu tư XDCB vẫn còn diễn ra. Việc chậm trễ trong thanh toán không chỉ ảnh hưởng đến tài chính của doanh nghiệp mà còn làm giảm uy tín của chủ đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước.

2.2. Nhận diện nguyên nhân gây thất thoát lãng phí vốn đầu tư

Hiện tượng thất thoát, lãng phí trong đầu tư công xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, chất lượng công tác khảo sát, thiết kế và lập dự toán còn hạn chế, dẫn đến phải điều chỉnh dự án nhiều lần, gây phát sinh chi phí. Thứ hai, quy trình đấu thầu và lựa chọn nhà thầu đôi khi chưa thực sự minh bạch, có thể lựa chọn phải nhà thầu không đủ năng lực tài chính và kỹ thuật. Thứ ba, công tác giám sát thi công và nghiệm thu khối lượng chưa được thực hiện chặt chẽ, tạo kẽ hở cho các hành vi tiêu cực. Cuối cùng, sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước có lúc chưa đồng bộ, gây chồng chéo và chậm trễ trong xử lý các vấn đề phát sinh.

2.3. Hạn chế trong công tác quyết toán dự án hoàn thành

Công tác quyết toán dự án hoàn thành là một trong những khâu yếu trong chu trình quản lý đầu tư tại Kon Plông. Báo cáo thẩm tra của Phòng Tài chính - Kế hoạch cho thấy nhiều dự án chậm nộp hồ sơ quyết toán theo quy định. Nguyên nhân là do chủ đầu tư và nhà thầu chưa hoàn thiện đầy đủ hồ sơ pháp lý, hồ sơ nghiệm thu, hoặc còn vướng mắc về công nợ. Việc chậm quyết toán không chỉ vi phạm quy định quản lý tài chính mà còn làm cho số liệu về tài sản công không được cập nhật kịp thời, gây khó khăn cho việc đánh giá tổng thể hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà nước và hoạch định kế hoạch cho các năm tiếp theo.

III. Phương pháp tối ưu lập và phân bổ ngân sách đầu tư XDCB

Để nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách, việc hoàn thiện công tác lập và phân bổ dự toán chi ngân sách nhà nước trong đầu tư XDCB là giải pháp nền tảng. Quá trình này phải được thực hiện một cách khoa học, minh bạch và bám sát thực tiễn. Theo đề xuất trong luận văn, công tác lập dự toán cần dựa trên quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội đã được phê duyệt, đảm bảo tính đồng bộ và có tầm nhìn dài hạn. Việc phân bổ ngân sách cho đầu tư phát triển cần khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, thiếu tập trung. Thay vào đó, cần ưu tiên bố trí vốn cho các dự án trọng điểm, có sức lan tỏa lớn, các dự án xử lý nợ đọng XDCB và các công trình cấp bách phục vụ dân sinh. Quy trình này đòi hỏi sự tham gia và phản biện của các cơ quan chuyên môn và cộng đồng dân cư. Đặc biệt, cần tăng cường vai trò của Hội đồng nhân dân các cấp trong việc giám sát quá trình lập và quyết định dự toán. Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý dự án và lập dự toán sẽ giúp tăng tính chính xác và minh bạch. Một cơ chế quản lý vốn đầu tư hiệu quả bắt đầu từ khâu lập kế hoạch. Do đó, việc nâng cao chất lượng công tác này sẽ là tiền đề quan trọng để kiểm soát chi ngân sách nhà nước ở các giai đoạn sau, góp phần tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà nước tại huyện Kon Plông, một địa bàn còn nhiều khó khăn về nguồn lực.

3.1. Hoàn thiện quy trình lập dự toán và phân bổ vốn đầu tư

Quy trình lập dự toán cần được cải tiến theo hướng gắn kết chặt chẽ kế hoạch đầu tư trung hạn với kế hoạch hàng năm. Các dự án đưa vào danh mục đầu tư phải có đầy đủ thủ tục theo Luật Đầu tư công, được thẩm định kỹ lưỡng về sự cần thiết và hiệu quả kinh tế - xã hội. Khi phân bổ ngân sách cho đầu tư phát triển, cần áp dụng nguyên tắc ưu tiên: (1) trả nợ XDCB; (2) vốn đối ứng cho các dự án ODA; (3) các dự án chuyển tiếp; (4) cuối cùng mới đến các dự án khởi công mới. Việc công khai hóa kế hoạch phân bổ vốn sẽ giúp tăng cường sự giám sát của người dân và doanh nghiệp, đảm bảo nguồn lực được sử dụng đúng mục đích.

3.2. Nâng cao năng lực của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng

Chất lượng của công tác quản lý đầu tư phụ thuộc rất lớn vào năng lực của các chủ đầu tư và Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng (BQLDA). Cần kiện toàn lại bộ máy các BQLDA, đảm bảo đủ nhân sự có trình độ chuyên môn về kinh tế, kỹ thuật và pháp luật. Thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ về quản lý dự án, đấu thầu, quản lý hợp đồng và quyết toán. Đồng thời, cần quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu BQLDA đối với hiệu quả của từng dự án. Một BQLDA chuyên nghiệp sẽ là nhân tố quyết định đến việc lập dự toán chính xác, quản lý thi công chặt chẽ và thực hiện quyết toán kịp thời.

IV. Bí quyết kiểm soát chi ngân sách và giám sát đầu tư hiệu quả

Giai đoạn chấp hành dự toán và kiểm soát chi ngân sách nhà nước là khâu quyết định trực tiếp đến việc đồng vốn có được sử dụng đúng mục đích và hiệu quả hay không. Một trong những giải pháp trọng tâm là tăng cường vai trò và trách nhiệm của Kho bạc Nhà nước huyện Kon Plông. Kho bạc Nhà nước không chỉ thực hiện chức năng thanh toán mà còn phải là "người gác cổng" nghiêm ngặt, từ chối các khoản chi không đủ điều kiện, không có trong dự toán hoặc sai chế độ. Quá trình kiểm soát chi phải được thực hiện trên nguyên tắc "thanh toán theo tiến độ, khối lượng hoàn thành", tránh tạm ứng quá mức gây chiếm dụng vốn. Bên cạnh đó, công tác giám sát và đánh giá đầu tư cần được đổi mới toàn diện. Cần phát huy vai trò của giám sát cộng đồng, tạo cơ chế để người dân tham gia vào việc theo dõi chất lượng, tiến độ các công trình trên địa bàn. Việc thanh tra, kiểm tra cần được tiến hành thường xuyên, đột xuất thay vì theo kế hoạch định kỳ, tập trung vào các dự án có tổng mức đầu tư lớn hoặc có dấu hiệu chậm tiến độ. Hoàn thiện quy trình đấu thầu và lựa chọn nhà thầu cũng là một giải pháp then chốt. Việc áp dụng đấu thầu qua mạng cần được đẩy mạnh để tăng tính minh bạch, cạnh tranh, lựa chọn được những nhà thầu thực sự có năng lực, góp phần ngăn chặn tiêu cực và thất thoát, lãng phí trong đầu tư công.

4.1. Tăng cường vai trò kiểm soát của Kho bạc Nhà nước Kon Plông

Để siết chặt kỷ luật tài chính, Kho bạc Nhà nước huyện Kon Plông cần thực hiện nghiêm túc quy trình kiểm soát chi. Mọi hồ sơ thanh toán phải được kiểm tra kỹ lưỡng về tính pháp lý, sự phù hợp với hợp đồng và dự toán được duyệt. Kho bạc cần phối hợp chặt chẽ với cơ quan tài chính và chủ đầu tư để nắm bắt tiến độ thực hiện dự án, kịp thời tháo gỡ các vướng mắc trong khâu thanh toán. Việc từ chối các khoản chi sai quy định phải được thực hiện kiên quyết, đồng thời báo cáo cấp có thẩm quyền để xử lý. Hiện đại hóa công nghệ thông tin trong giao dịch với Kho bạc cũng sẽ giúp rút ngắn thời gian xử lý và tăng cường tính minh bạch.

4.2. Tối ưu hóa quy trình đấu thầu và lựa chọn nhà thầu

Minh bạch hóa công tác đấu thầu và lựa chọn nhà thầu là giải pháp căn cơ để chống thất thoát. Cần đảm bảo hồ sơ mời thầu được xây dựng một cách khoa học, rõ ràng, không cài cắm các tiêu chí gây hạn chế cạnh tranh. Ưu tiên các hình thức đấu thầu rộng rãi, đặc biệt là đấu thầu qua mạng. Quá trình chấm thầu phải được thực hiện bởi tổ chuyên gia có năng lực và độc lập. Cần xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về đấu thầu như thông thầu, gian lận hồ sơ. Lựa chọn được nhà thầu tốt sẽ đảm bảo chất lượng công trình, đúng tiến độ và tiết kiệm chi phí cho ngân sách nhà nước.

4.3. Đẩy mạnh công tác thanh tra giám sát và quyết toán dự án

Công tác giám sát và đánh giá đầu tư phải được thực hiện xuyên suốt từ giai đoạn chuẩn bị đến khi dự án hoàn thành. Tăng cường thanh tra chuyên ngành, tập trung vào việc quản lý chất lượng, định mức, đơn giá xây dựng. Đồng thời, cần có chế tài mạnh mẽ đối với các chủ đầu tư, nhà thầu chậm trễ trong việc lập hồ sơ quyết toán dự án hoàn thành. Quy định rõ thời hạn bắt buộc phải hoàn thành quyết toán sau khi công trình được bàn giao. Việc thực hiện tốt công tác này sẽ giúp thu hồi các khoản chi sai quy định, tổng kết kinh nghiệm và làm cơ sở cho việc lập kế hoạch đầu tư các giai đoạn sau hiệu quả hơn.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý chi ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn huyện konplông tỉnh kon tum

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý chỉ ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản. Chương 2: Thực trạng quản lý chỉ NSNN trong đầu tư XDCB trên địa bàn huyện Kon Plông. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chỉ NSNN trong đầu tư XDCB trên địa bàn huyện Kon Plông. 12 CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LY CHI NGAN SACH NHA NƯỚC TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN 1.

TONG QUAN VE CHI NGAN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐÀU TU XAY DUNG CO BAN 1. Ngân sách nhà nước Ngân sách, theo nghĩa chung nhất, là một quỹ tiền tệ tập trung mà chủ nhân của nó phải tính toán đề thu và chỉ luôn cân đối với nhau trong một thời hạn nhất định. Bất kỳ một chủ thể nào tiến hành hoạt động đầu tư cũng đều phải có ngân sách, tức có tiền và có kế hoạch thu, chỉ hợp lý để đạt được hiệu qua để ra. Tính cân đối, thu chỉ có kế hoạch là nguyên tắc vận hành then chốt của ngân sách.

Trong khái niệm này, NSNN bao gồm hai nội dung chính (thu NSNN, chỉ NSNN) và một nội dung phát sinh (cân đối NSNN), được xây dựng và thực hiện trong một khoảng thời gian xác định (ngắn hạn là một năm, trung hạn cóthể là 3-5 năm). Đầu tư XDCB và Vốn dau tw XDCB Theo đúng nghĩa thông thường nhất thi *đầu” là bỏ vào, đặt vào; “tu” La 13 tư bản, là vốn. Đầu tư là bỏ tư bản, vốn vào một hoạt động nào đó. đầu tư là hoạt động có những đặc trưng sau đây: Có sự chỉ pl tệ hoặc vật chất, có tác dụng tạo nên phương tiện để đạt được mục đích nào đó.

Mục đích đạt được có thẻ là mục đích kinh tế hoặc chính trị, xã hội, văn hóa, y tế, giáo dục.[24] Theo Luật đầu tư của Việt Nam (2005): “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ. vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình đẻ hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”.[24] Mặc dù các khái niệm trên có diễn giải khác nhau nhưng chúng cùng thống nhất một nghĩa: đầu tư là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động nhất định, hy vọng thu được những kết quả và đạt được những mục tiêu nhất định trong tương lai. Khái niệm đầu tư XDCB theo Luật xây dựng của Việt Nam (2014): Dự án đầu tư XDCB là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng đề xây mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chỉ phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc báo cáo kinh tế - kỹ thuật u tư xây dựng [24] Tóm lại, đầu tư XDCB là một bộ phận của hoạt động đầu tư, đó là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động XDCB nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các TSCĐ nhằm phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân.

Vến đầu tư XDCB 'Vốn đầu tư là biểu hiện bằng tiền hoặc các vật chất khác có giá trị như 14 tiền của các phương tiện hành động mà người theo đuổi mục đích đầu tư phải ứng trước đề tổ chức quá trình thực hiện của minh. Ban chat của vốn đầu tư là công cụ được ân dưới biểu hiện tiền tệ, là hình thái tiền tệ của phương tiện hành động mà con người hành động đang cần để đạt được mục đích. Để tiến hành bất kỳ hành động nào con người đều phải dùng phương tiện. Đề có phương tiện con người phải tạo ra các phương tiện đó.

Phương tiện có nhiều loại từ đơn giản dễ kiếm, dễ tạo đến phức tạp, khó tự tạo được. Đối với loại đơn giản, người hành động có thể tự tạo ra sản phẩm cho mình; nhưng đối với những loại phương tiện phức tạp, không dễ tự tạo và chỉ những nhà chuyên môn mới có thể tạo nôi thì người hành động phải mua, mua muốn mua phải có tiền. Tiền đó gọi là vốn đầu tư. Công cụ sử dụng trong quản lý chỉ NSNN trong đầu tư XDCB là các định mức và chế độ chỉ.

Chế độ chỉ quy định chỉ được chỉ NSNN cho những. hoạt động được pháp luật quy định. Định mức chỉ quy định quy mô chỉ NSNN trong đầu tư XDCB cho từng hoạt động xác định. Chỉ NSNN trong đầu tư XDCB.

Khái niệm Chỉ ngân sách Nhà nước trong đầu tư XDCB là quá trình phân phối và sử dụng một phần vốn tiền tệ từ quỹ NSNN để đầu tư tái sản xuất TSCĐ nhằm từng bước tăng cường, hoàn thiện và hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất phục vụ trên địa bàn địa phương [25] 15 b. Đặc điểm * Đặc điểm chung: - Chỉ NSNN gắn chặt với bộ máy Nhà nước và những định hướng phát triển kinh tế xã hội đặt ra trong từng thời kỳ. - Các khoản chỉ của NSNN được đánh giá một cách toàn diện dựa trên cơ sở của việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội đã đề ra. - Các khoản chỉ của NSNN mang tính chất không hoàn trả trực tiếp.

* Đặc điểm riêng: - Chỉ NSNN trong đầu tư XDCB là khoản chỉ lớn của NSNN nhưng không có tính ồn định. Chỉ đầu tư XDCB là khoản chỉ tất yếu nhằm đảm bảo. sự phát triển kinh tế - xã hội cho mỗi quốc gia nói chung và từng địa phương nói riêng. Trước hết chỉ NSNN cho đầu tư XDCB nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, tạo nền tảng đề đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội.

Quy mô chỉ NSNN trong đầu tư XDCB phụ thuộc vào định hướng phát triển của từng địa phương và không có tính ổn định giữa các thời Ỳ. - Chỉ đầu tr XDCB gắn liền với đặc điểm của đầu tư XDCB: Nguồn vốn NSNN được chỉ để đầu tư XDCB do đó nó gắn liền với đặc điểm của đầu tư XDCB. Đối tượng quản lý chỉ NSNN và đối tượng thực thi đầu tr XDCB tác bạch nhau nên có thể dẫn đến sự không đồng nhất về hiệu quả mà người quản lý chỉ NSNN hướng đến. Đồng thời, quản lý chỉ NSNN trong đầu tư XDCB được phân cấp nhiều trong quản lý, qua nhiều khâu, nhiều cơ quan quản lý lại mang tính sở hữu chung nên khó xác định được thất thoát xảy ra là ở khâu nào.

Điều này đòi hỏi trách nhiệm quản lý chỉ NSNN trong đầu tư XDCB phải được phân định rõ ràng, tránh chồng chéo. Nội dung của chi NSIVN trong đầu tư XDCB - Chi NSNN cho các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh không có khả năng thu hồi vốn thuộc địa phương quản lý như: 16 các dự án giao thông, thủy lợi, giáo dục va dao tao, y tế, trồng rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, khu bảo tồn thiên nhiên, các trạm trại thú y, nghiên ng mới và cải tạo giống, công trình văn hóa xã hội, thể dục thẻ thao, phúc lợi công cộng, quản lý nhà nước, khoa học kỹ thuật. - Các dự án đầu tư của các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật được NSNN. - Các dự án quy hoạch tổng thẻ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

như: quy hoạch khu công nghiệp, quy hoạch nông thôn, - Các dự án đầu tư XDCB khác theo quyết định của Trung ương, chính quyền địa phương. Vai trò của chỉ NSNN trong đầu tr XDCB Mặt trái của cơ chế thị trường là các cá nhân, tổ chức kinh tế sẽ không đầu tư vào lĩnh vực không lợi nhuận hoặc lợi nhuận không cao, trong khi đó đầu tư XDCB lại rất cần thi cho phát triển kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội, vì vậy chỉ có chỉ đầu tr XDCB từ NSNN mới có thể thực hiện được vai trò quan trọng này. Đầu tư XDCB đóng vai trò quan trọng trên mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng của mỗi quốc gia. Thứ nhất, về mặt kinh tế: Chỉ đầu tư XDCB góp phần tạo các nhà xưởng mới, thiết bị công nghệ, dây chuyển sản xuất mới, hiện đại hoặc mở rộng, cải tạo những nhà máy cũ[20].

Từ đó tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, mở rộng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Do đó, nâng cao hiệu quả sản xuất ở cơ sở góp phần phát triển kinh tế. Đầu tư nói chung và đầu tư XDCB nói riêng tác động đến tổng cầu và tổng cung của xã hội. Qua đó tác động đến sự ồn định, tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế.

Đầu tư thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu toàn bộ nên kinh tế. Đầu 17 tư làm cho tổng cầu tăng theo. Chính vì vậy mà Chính phủ đã sử dụng đầu tư như là một trong những biện pháp kích cầu. Chỉ dau tu XDCB tir NSNN sé tạo ra hạ tầng kinh tế kỹ thuật tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh từ đó thu hút đầu tư, thúc đây phát triển kinh tế.

Thứ hai, về mặt chính trị, xã hội: Chỉ đầu tư XDCB từ NSNN tạo điều kiện xây dựng hạ tầng cơ sở cho các vùng có điều kiện KTXH khó khăn tạo. điều kiện phát triển kinh tế ở các vùng này từ đó tăng thu nhập, cải thiện đời sống người dân, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng ở địa phương. Đồng thời, chỉ đầu tư XDCB cũng tập trung vào các công trình văn hóa dé duy trì truyền thống văn hóa của địa phương, của quốc gia; đầu tư vào truyền thông như phát thanh, truyền hình nhằm thông tin những chính sách, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến nhân dân, tạo điều kiện ổn định chính trị của quốc gia; đầu tư XDCB trong lĩnh vực y tế góp phần chăm sóc sức khỏe của người dân và các dịch vụ công cộng khác cho cộng đồng. Thứ ba, về mặt an ninh, quốc phòng: Kinh tế ôn định và phát triển, các lên quan trọng cho mặt chính trị, xã hội được củng có và tăng cường là điề ổn định an ninh, quốc phòng [29].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ