Luận văn Thạc sĩ: Phát triển nông thôn mới tại xã Trường Đông, Hòa Thành, Tây Ninh

Luận văn thạc sĩ kinh tế nghiên cứu quản lý kinh tế phát triển nông thôn mới trên địa bàn xã trường đông thị xã hòa thành tỉnh tây ninh, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên

Trường đại học

Trường Đại Học Kinh Tế

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn
100
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khám phá luận văn thạc sĩ phát triển nông thôn mới xã Trường Đông

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý kinh tế về đề tài phát triển nông thôn mới trên địa bàn xã Trường Đông, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh là một công trình nghiên cứu khoa học, hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn của chương trình mục tiêu quốc gia. Nghiên cứu này phân tích sâu sắc quá trình triển khai, những thành tựu và hạn chế, từ đó đề xuất các giải pháp mang tính chiến lược. Chủ trương xây dựng nông thôn mới được xác định trong Nghị quyết số 26-NQ/TW là một nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước, nhằm mục tiêu "Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý". Tại xã Trường Đông, chương trình được triển khai từ năm 2013, mang lại nhiều thay đổi tích cực cho bộ mặt nông thôn và đời sống người dân. Luận văn tập trung vào giai đoạn 2016-2020 để đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tiếp theo, 2021-2025. Việc nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng, không chỉ cung cấp cái nhìn toàn diện về một địa phương cụ thể mà còn rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu cho việc phát triển nông thôn mới ở các khu vực có điều kiện tương đồng.

1.1. Cơ sở lý luận và 19 tiêu chí quốc gia về nông thôn mới

Cơ sở lý luận của phát triển nông thôn mới dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các đường lối, chính sách của Đảng. Nông thôn mới được định nghĩa là nông thôn có đời sống vật chất và tinh thần không ngừng được nâng cao, kinh tế phát triển bền vững, hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, và môi trường sinh thái được bảo vệ. Nền tảng để đánh giá quá trình này là Bộ tiêu chí Quốc gia, được ban hành theo Quyết định số 1980/QĐ-TTg, bao gồm 19 tiêu chí chia thành 5 nhóm: Quy hoạch; Hạ tầng kinh tế - xã hội; Kinh tế và tổ chức sản xuất; Văn hóa - Xã hội - Môi trường; và Hệ thống chính trị. Các tiêu chí nông thôn mới này là thước đo cụ thể, giúp các địa phương như xã Trường Đông xác định rõ mục tiêu và lộ trình thực hiện, từ việc quy hoạch, xây dựng giao thông, thủy lợi, đến nâng cao thu nhập, giảm nghèo và củng cố an ninh quốc phòng.

1.2. Đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội của xã Trường Đông

Xã Trường Đông, thuộc thị xã Hòa Thành, có vị trí địa lý thuận lợi, nằm cạnh sông Vàm Cỏ Đông và có Quốc lộ 22B đi qua, tạo điều kiện cho giao thương và phát triển kinh tế. Với tổng diện tích tự nhiên 2.558,55ha, trong đó phần lớn là đất nông nghiệp, kinh tế địa phương chủ yếu dựa vào trồng trọt và chăn nuôi. Dân số của xã là 17.926 người, đặt ra cả cơ hội về nguồn lao động và thách thức về việc làm. Điều kiện tự nhiên ôn hòa, ít thiên tai là lợi thế để đa dạng hóa cây trồng. Tuy nhiên, luận văn chỉ ra rằng trình độ phát triển kinh tế chưa đồng đều, đời sống một bộ phận người dân còn khó khăn. Đây là bối cảnh thực tiễn quan trọng mà đề tài phát triển nông thôn mới cần phân tích để đưa ra những giải pháp phù hợp với đặc thù của xã Trường Đông.

II. Top các thách thức trong phát triển nông thôn mới tại Trường Đông

Quá trình triển khai chương trình phát triển nông thôn mới tại xã Trường Đông bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận cũng đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Luận văn của tác giả Nguyễn Duy Hiếu đã chỉ ra những vấn đề cốt lõi cần được giải quyết. Một trong những rào cản lớn nhất là địa bàn xã khá rộng và dân số đông, dẫn đến sự phát triển kinh tế - xã hội không đồng đều giữa các khu vực. Mặc dù kinh tế có tăng trưởng, một bộ phận người dân vẫn còn cuộc sống khó khăn, hạn chế khả năng đóng góp vào các công trình chung. Bên cạnh đó, việc vận động huy động nguồn lực đối ứng trong dân còn gặp nhiều trở ngại do sức dân còn hạn chế. Người dân chủ yếu đóng góp ngày công lao động thay vì tài chính. Các vấn đề về cơ chế lồng ghép vốn, cách tính các chỉ tiêu lao động, và tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế cũng là những điểm nghẽn cần tháo gỡ. Những thách thức này đòi hỏi một chiến lược quản lý kinh tế linh hoạt và sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị địa phương.

2.1. Khó khăn về huy động vốn và kinh tế chưa đồng đều

Một trong những thách thức lớn nhất được luận văn nhấn mạnh là công tác huy động nguồn lực tài chính từ cộng đồng. Do đời sống kinh tế của người dân xã Trường Đông chưa thực sự cao và đồng đều, việc vận động vốn đối ứng gặp nhiều khó khăn. Theo nghiên cứu, "đa số người dân chỉ đóng góp ngày công lao động và cùng tham gia thực hiện các tiêu chí". Điều này tạo áp lực lớn lên ngân sách nhà nước và các nguồn vốn hỗ trợ khác. Sự chênh lệch về thu nhập giữa các hộ gia đình và các ấp cũng làm chậm tiến độ hoàn thành một số tiêu chí đòi hỏi sự đầu tư lớn về cơ sở vật chất. Vấn đề này cho thấy tầm quan trọng của việc phát triển các mô hình kinh tế hiệu quả để nâng cao thu nhập cho người dân, tạo nền tảng vững chắc cho việc xã hội hóa nguồn vốn.

2.2. Vấn đề nhận thức cộng đồng và ô nhiễm môi trường nông thôn

Bên cạnh khó khăn về kinh tế, nhận thức của một bộ phận người dân về phát triển nông thôn mới vẫn còn hạn chế, đặc biệt là trong lĩnh vực môi trường. Luận văn chỉ rõ: "còn một số người dân chưa nhận thức về tác hại của việc gây ô nhiễm môi trường, không xử lý, đăng ký thu gom rác thải, còn vứt rác bừa bãi". Tình trạng này không chỉ làm mất mỹ quan nông thôn mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng và sự phát triển bền vững. Công tác tuyên truyền dù được thực hiện thường xuyên nhưng hiệu quả chưa cao. Điều này cho thấy vai trò của người dân với tư cách là chủ thể không chỉ dừng lại ở việc tham gia xây dựng, mà còn phải thể hiện ở ý thức tự giác gìn giữ và bảo vệ thành quả chung, đặc biệt là môi trường sống.

III. Giải pháp hạ tầng và kinh tế cho nông thôn mới xã Trường Đông

Để vượt qua các thách thức, luận văn đã đề xuất một hệ thống giải pháp toàn diện, trong đó tập trung vào hai trụ cột chính là phát triển hạ tầng kinh tế - xã hộitái cơ cấu nông nghiệp. Đây được xem là những giải pháp nền tảng, tạo động lực cho sự phát triển bền vững của xã Trường Đông. Về hạ tầng, cần ưu tiên hoàn thiện hệ thống giao thông nông thôn và thủy lợi nội đồng. Việc bê tông hóa các tuyến đường liên ấp, ngõ xóm và kiên cố hóa kênh mương không chỉ giúp người dân đi lại thuận tiện mà còn phục vụ đắc lực cho sản xuất, vận chuyển hàng hóa. Về kinh tế, giải pháp cốt lõi là đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa, gắn với thị trường. Việc này đòi hỏi phải ứng dụng khoa học công nghệ, xây dựng các mô hình liên kết theo chuỗi giá trị và thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp. Những giải pháp này khi được thực hiện đồng bộ sẽ giúp nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người dân, từ đó tạo ra nguồn nội lực vững chắc cho công cuộc phát triển nông thôn mới.

3.1. Hoàn thiện hệ thống giao thông và thủy lợi nội đồng

Hạ tầng giao thông và thủy lợi là huyết mạch của kinh tế nông thôn. Luận văn đề xuất cần tiếp tục đầu tư, nâng cấp các tuyến đường xã, đường trục ấp đã xuống cấp và mở rộng bê tông hóa đường ngõ xóm. Đặc biệt, hệ thống giao thông nội đồng cần được quan tâm để cơ giới hóa sản xuất. Đối với thủy lợi, việc kiên cố hóa hệ thống kênh mương sẽ đảm bảo cung cấp nước tưới tiêu chủ động cho 99% diện tích đất sản xuất, thích ứng với biến đổi khí hậu. Việc hoàn thiện hạ tầng kinh tế - xã hội này cần được thực hiện theo phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm", phát huy tối đa sự đóng góp của cộng đồng, đảm bảo các công trình được xây dựng phù hợp với quy hoạch và nguyện vọng của người dân.

3.2. Tái cơ cấu nông nghiệp gắn với liên kết chuỗi giá trị

Để nâng cao thu nhập một cách bền vững, giải pháp trọng tâm là tái cơ cấu nông nghiệp. Cần chuyển đổi mạnh mẽ sang sản xuất các sản phẩm có hiệu quả kinh tế cao và có thị trường tiêu thụ ổn định. Luận văn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, áp dụng công nghệ cao. Đồng thời, cần thúc đẩy các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý như hợp tác xã kiểu mới, tổ hợp tác. Việc "thúc đẩy liên kết theo chuỗi giá trị gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm" và thu hút doanh nghiệp đầu tư vào chế biến nông sản là chìa khóa để nâng cao giá trị gia tăng, giải quyết đầu ra cho nông sản của xã Trường Đông, góp phần thực hiện thành công tiêu chí nông thôn mới về thu nhập và hộ nghèo.

IV. Bí quyết nâng cao đời sống và vai trò chủ thể của người dân

Thành công của chương trình phát triển nông thôn mới không chỉ đo bằng những con số về hạ tầng hay kinh tế, mà còn thể hiện ở chất lượng đời sống vật chất, tinh thần và sự tham gia tích cực của cộng đồng. Luận văn khẳng định vai trò của người dân là chủ thể, là yếu tố quyết định sự thành công bền vững. Do đó, các giải pháp phải hướng đến việc nâng cao năng lực và phát huy vai trò này. Cần đẩy mạnh công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn, giúp họ chuyển đổi công việc, tăng thu nhập và thích ứng với cơ cấu kinh tế mới. Song song đó, công tác tuyên truyền, vận động phải được đổi mới về nội dung và hình thức, làm cho mỗi người dân hiểu rõ quyền lợi và trách nhiệm của mình trong xây dựng quê hương. Việc xây dựng đời sống văn hóa phong phú, lành mạnh, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái sẽ tạo ra một xã hội nông thôn văn minh, giàu bản sắc, nơi người dân thực sự là người chủ và là người thụ hưởng thành quả của chương trình phát triển nông thôn mới xã Trường Đông.

4.1. Đẩy mạnh đào tạo nghề và công tác tuyên truyền vận động

Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cần tập trung vào công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đặc biệt là các ngành nghề phi nông nghiệp và dịch vụ. Các chương trình đào tạo cần gắn với nhu cầu thực tế của thị trường lao động và doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Hòa Thành. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền phải đi vào chiều sâu, không chỉ dừng lại ở việc phổ biến chủ trương mà cần khơi dậy lòng tự hào, ý thức trách nhiệm cộng đồng. Phải làm cho người dân thấy rằng họ là người quyết định diện mạo của quê hương. Như kinh nghiệm từ nhiều địa phương, khi "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" thì mọi khó khăn đều có thể vượt qua, và quá trình phát triển nông thôn mới sẽ đạt hiệu quả cao nhất.

4.2. Xây dựng đời sống văn hóa gắn với bảo vệ môi trường sinh thái

Đời sống tinh thần là một phần không thể thiếu của nông thôn mới. Cần tiếp tục đầu tư nâng cấp các thiết chế văn hóa - thể thao cơ sở, tạo không gian sinh hoạt cộng đồng lành mạnh. Các phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" cần được duy trì và nâng cao chất lượng. Đặc biệt, việc xây dựng nếp sống văn minh phải gắn liền với bảo vệ môi trường. Cần nhân rộng các mô hình phân loại rác tại nguồn, xử lý chất thải chăn nuôi hợp vệ sinh. Một môi trường sống xanh - sạch - đẹp không chỉ cải thiện sức khỏe người dân mà còn là một tiêu chí nông thôn mới quan trọng, thể hiện trình độ phát triển văn minh của cộng đồng dân cư xã Trường Đông.

V. Phân tích kết quả thực tiễn xây dựng nông thôn mới Trường Đông

Giai đoạn 2016-2020, công cuộc phát triển nông thôn mới tại xã Trường Đông đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, làm thay đổi toàn diện bộ mặt nông thôn. Dưới sự chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền và sự đồng lòng của người dân, nhiều tiêu chí nông thôn mới đã được hoàn thành và nâng cao chất lượng. Về hạ tầng kinh tế - xã hội, hệ thống giao thông, thủy lợi, điện, trường học, trạm y tế được đầu tư nâng cấp, cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất và dân sinh. Đời sống vật chất của người dân có sự cải thiện rõ rệt. Thu nhập bình quân đầu người tăng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể qua từng năm. Các hình thức tổ chức sản xuất từng bước được đổi mới, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế. Bên cạnh đó, lĩnh vực văn hóa - xã hội cũng có nhiều chuyển biến tích cực, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Những kết quả này là tiền đề quan trọng để xã Trường Đông tiếp tục hướng tới mục tiêu xây dựng nông thôn mới nâng cao và kiểu mẫu trong giai đoạn tiếp theo.

5.1. Thành tựu về hạ tầng thu nhập và giảm nghèo

Thành tựu nổi bật nhất trong giai đoạn 2016-2020 là sự thay đổi của hệ thống hạ tầng. Nhiều tuyến đường được nhựa hóa, bê tông hóa, tạo thuận lợi cho giao thương. Hệ thống điện, thông tin liên lạc phủ khắp các ấp, 100% hộ dân được sử dụng điện an toàn. Nhờ tái cơ cấu nông nghiệp và phát triển ngành nghề, thu nhập bình quân đầu người của xã Trường Đông đã tăng lên đáng kể, vượt chỉ tiêu đề ra. Theo số liệu trong luận văn, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, cho thấy hiệu quả của các chính sách an sinh xã hội và chương trình phát triển nông thôn mới đã tác động trực tiếp, tích cực đến đời sống của người dân, đặc biệt là các hộ gia đình khó khăn.

5.2. Chuyển biến về văn hóa xã hội và hệ thống chính trị cơ sở

Chương trình không chỉ mang lại lợi ích vật chất mà còn tạo ra những chuyển biến sâu sắc về văn hóa - xã hội. Chất lượng giáo dục, y tế được nâng lên. Các hoạt động văn hóa, thể thao cộng đồng diễn ra sôi nổi, củng cố tình làng nghĩa xóm. Hệ thống chính trị ở cơ sở được kiện toàn, năng lực lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ xã, ấp được nâng cao. Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đã phát huy quyền làm chủ của nhân dân. An ninh trật tự được đảm bảo, không có các điểm nóng phức tạp. Những thành quả này cho thấy sự phát triển toàn diện, hài hòa giữa kinh tế, văn hóa và xã hội, đúng với mục tiêu cốt lõi của chương trình phát triển nông thôn mới.

VI. Hướng đi và bài học cho phát triển nông thôn mới Trường Đông

Từ việc phân tích thực trạng và kinh nghiệm của các địa phương khác, luận văn đã đúc kết những bài học kinh nghiệm sâu sắc và đề ra định hướng phát triển cho xã Trường Đông trong giai đoạn tới. Bài học quan trọng nhất là phải phát huy vai trò chủ thể của người dân, mọi chủ trương phải xuất phát từ nguyện vọng và lợi ích của họ. Cần có sự chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ của cả hệ thống chính trị, đồng thời phải linh hoạt, sáng tạo trong cách làm, phù hợp với điều kiện thực tế. Về định hướng giai đoạn 2021-2025, xã Trường Đông cần tập trung vào việc duy trì và nâng cao chất lượng các tiêu chí đã đạt, đồng thời hướng tới xây dựng nông thôn mới nâng cao. Trọng tâm là phát triển kinh tế theo chiều sâu, tạo ra các sản phẩm nông nghiệp chủ lực có thương hiệu và sức cạnh tranh. Bên cạnh đó, cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề môi trường và xây dựng nếp sống văn minh. Những định hướng và giải pháp này sẽ là kim chỉ nam để phát triển nông thôn mới tại địa phương một cách bền vững và toàn diện.

6.1. Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn triển khai tại địa phương

Thực tiễn tại xã Trường Đông cho thấy, bài học hàng đầu là phải làm tốt công tác tuyên truyền, vận động để tạo sự đồng thuận trong nhân dân. Phải công khai, minh bạch trong quản lý, sử dụng các nguồn vốn, đặc biệt là vốn do nhân dân đóng góp. Kinh nghiệm cho thấy, việc lựa chọn những hạng mục ưu tiên, phù hợp với khả năng và nhu cầu cấp thiết của người dân để làm trước sẽ tạo ra hiệu ứng lan tỏa tích cực. Một bài học khác là tầm quan trọng của việc huy động nội lực, coi đây là yếu tố quyết định, trong khi sự hỗ trợ từ bên ngoài là quan trọng nhưng chỉ mang tính xúc tác. Chính sự chủ động, sáng tạo của địa phương và cộng đồng là chìa khóa thành công.

6.2. Định hướng và giải pháp trọng tâm cho giai đoạn 2021 2025

Trên cơ sở những kết quả đã đạt được, định hướng cho giai đoạn tới là xây dựng xã Trường Đông trở thành xã nông thôn mới nâng cao. Các giải pháp trọng tâm bao gồm: Tiếp tục tái cơ cấu nông nghiệp mạnh mẽ hơn nữa, gắn với xây dựng thương hiệu sản phẩm OCOP; thu hút đầu tư vào công nghiệp chế biến và dịch vụ nông thôn để tạo việc làm, tăng thu nhập; giải quyết triệt để vấn đề ô nhiễm môi trường, xây dựng cảnh quan sáng - xanh - sạch - đẹp. Đồng thời, cần nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ cơ sở và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành. Đây là những bước đi cần thiết để phát triển nông thôn mới đi vào chiều sâu và mang lại giá trị bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

27/07/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế phát triển nông thôn mới trên địa bàn xã trường đông thị xã hòa thành tỉnh tây ninh hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIEN VE PHAT TRIEN NONG THON MỚI 1. Cơ sở lý luận về phát triển nông thôn mới 1. Quan niệm và đặc điểm nông thôn 1. Quan niệm về nông thôn Nông thôn là một trong những khu vực của đất nước, là khu vực sinh sống, làm việc chung của cộng đồng dân cư mà ở đây người dân sản xuất nông nghiệp là chủ yếu.

Nông thôn là một hiện tượng xuất hiện đồng thời với sự ra đời của nước Việt. Tại Việt Nam, nông thôn dường như mang những nét rất đặc thù so với các nước khác trên thế giới, thể hiện ở văn hóa làng xã và các đặc điểm xã hội tiềm ân trong mỗi chặng đường phát triển. Nếu như khái niệm đô thị được đề cập khá nhiều trong các văn bản pháp luật của các quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam thì khái niệm nông thôn dường như được quan tâm một cách khiêm tốn hơn. Các nghiên cứu từ trước đến nay đã cho thấy một điều rằng, cách nhìn nhận về nông thôn luôn đi theo hướng xác định những nội dung của nông thôn chứ ít khi đưa ra một định nghĩa chung đây đủ về nông thôn.

Theo quan điểm chung, nông thôn là khái niệm dùng để chỉ hệ thống cộng đồng xã hội lãnh thổ được hình thành trong quá trình phân công lao động xã hội mà ở đó mật độ dân cư tương đối thấp, lao động nông nghiệp chiếm tỷ trong cao, mối quan hệ cộng đồng chặt chẽ. Do vậy, lối sống, phương thức sống của cộng đồng dân cư nông thôn khác biệt với cộng đồng dân cư thành thị [3, tr. Xét về mặt tổ chức xã hội, làng xã và quốc gia Việt Nam là hai đối tượng quan trọng nhất đối với người Việt và được tổ chức chặt chẽ nhất. Chính vi thé mà người Việt thường nói làng với nước đi đôi với nhau.

Các hệ thống trung gian như huyện, tỉnh không có vai trò quan trọng như thể. Việt Nam có câu nói “lệnh vua thua lệ làng” cũng vì nghĩa này. Hiện nay, còn nhiều quan điểm khác nhau để phân biệt nông thôn với thành thị. Có quan điểm cho rằng nên dựa vào trình độ phát triển của người dân, quan điểm khác lại cho rằng chỉ dựa vào quy mô dân số, môi trường và phân công lao.

Với mỗi quan điểm khác nhau lại có những khái niệm khác nhau về nông thôn. Chính vì vậy, khái niệm nông thôn thường mang tính chất tương đối, phản ánh về tình hình kinh tế - xã hội của mỗi một quốc gia trên thế giới trong mỗi giai đoạn, thời kỳ. Đặc điểm của nông thôn Có thể nhận thấy đặc trưng cơ bản của cộng đồng dân cư nông thôn khác thành thị ở những điểm sau: Thứ nhất, dân cư là nông dân, kinh tế nông thôn chủ yếu là kinh tế nông nghiệp mang nhiều yếu tố tự nhiên vườn, ao, chuồng; ở đây trồng trọt và chăn nuôi là hai ngành nghề chính. Thứ hai, tính có kết cộng đồng cao.

So với cộng đồng dân cư thành thị, cộng. đồng dân cư nông thôn tiếp cận với thông tin ít hơn, chậm hơn; tiếp cận với các dịch vụ giáo dục y tế, văn hóa. thấp hơn, phong tục tập quán lạc hậu hơn. Thứ ba, ở nông thôn, quan hệ ứng xử xã hội của các thành viên trong cộng đồng về tục lệ truyền thống hơn là pháp lý được quy định bởi nhà nước.

So với thành thị, cộng đồng dân cư nông thôn thường mang tính thuần nhất hơn; hướng dịch chuyển xã hội cũng khác hơn. Những người có học vấn cao, chuyên môn giỏi thường di động dọc và ra các thành phố, số còn lại di động ngang giữa các vùng và giữa các ngành, nghề. Thứ tư, về văn hóa, ở nông thôn, văn hóa của cộng đồng dân cư mang đậm nét dân gian. Đây là cái nôi nuôi dưỡng và lưu truyền những tập tục, tín ngưỡng, văn hóa truyền thống.

Ngoài những đặc trưng cơ bản nêu trên, thực tiễn khu vực nông thôn Việt Nam còn có những điều khác biệt như sau: Một là, nghị trồng lúa nước là nghề chính của dân cư nông thôn ở Việt Nam với quy mô sản xuất trong điều kiện thiên nhiên tương đối khắc nghiệt. Người dân ở đây phải luôn có những biện pháp, cách ứng phó đối với thiên tai thường xuyên xảy ra như lũ lụt, hạn hái Hai là, Việt Nam là nước phải đương đầu với nhiều cuộc chiến tranh xâm lược kéo dài, tàn khốc. Chính xã hội nông thôn với cộng đồng làng xã đã tạo thành những pháo đài kháng chiến bất khả xâm phạm, bảo tồn cả những giá trị văn hóa truyền thống của xã hội Việt Nam. Ba là, xã hội truyền thống ở nông thôn Việt Nam là xã hội của những người tiểu nông, sản xuất nhỏ, ruộng đất ít, tư liệu sản xuất thủ công, lạc do vậy, tư tưởng ít nhiều bảo thủ, tầm nhìn hạn chế.

Lợi nhuận từ các hoạt động sản xuất thường ngày thấp dẫn đến thu nhập của người dân ở nông thông không tương đồng so với cư dân thành thị. Bến là, xã hội nông thôn Việt Nam được chia thành những khu vực có đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội khác nhau, mỗi vùng có trình độ phát triển khác nhau. Trình độ tiếp cận thị trường và trình độ sản xuất ở khu vực nông thôn còn thấp. Đồng thời, trong một phạm vi nhất định nào đó thì tính tự do, dân chủ, công bằng xã hội ở khu vực nông thôn vẫn còn thấp hơn so với khu vực thành thị [20, tr.

Khái niệm về phát triển nông thôn mới 1. Khái niệm nông thôn mới Nghị quyết số 26-NQ/TW của Trung ương đã đưa ra mục tiêu: “Xáy đựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tô chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ồn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao. môi trường sinh thái được bảo vệ. hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường ”.

Nhu vậy, nông thôn mới trước tiên nó phải là nông thôn và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có thê khái quát gọn theo các nội dung cơ bản sau: 'Thứ nhất, đường làng, ngõ xóm, cảnh quan từng hộ xanh - sạch - đẹp, không có hoạt động làm suy giảm môi trường. Thứ hai, sản xuất các mặt hàng ổn định, đảm bảo công việc làm và thu nhập ôn định cho tắt cả người dân tại địa phương. Thứ ba, đời sống vật chất, tinh thần của dân cư dân nông thôn ngày càng được nâng cao, trên cơ sở ưu tiên nguồn lực để nâng cao chất lượng thu nhập và phát triển các hình thức tô chức sản xuắt, từng bước hoàn thiện kết cấu hạ tầng nông 10 thôn, đồng thời đa dạng hóa các loại hình đào tạo ở tất cả các cấp theo hướng xã hội hóa, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động giáo dục, hoạt động các trạm y tế xã, đây mạnh các hoạt động văn hóa, thể dục, thê thao. Thứ tư, bảo vệ và phát triển tài nguyên thiên thiên, chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định, đảm bảo vệ sinh môi trường, không gây ô nhiễm môi trường và nguồn nước xung quanh.

'Thứ năm, giữ gìn, phát huy và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển các di sản văn hóa truyền thông của địa phương. Không có tụ điểm phức tạp về trật tự xã hội, không phát sinh thêm người mắc các tệ nạn xã đảm bảo an ninh, trật tự ở địa phương. Một cách khái quát, nông thôn mới là nông thôn mà trong đó, đời sống vật chất, văn hóa, tỉnh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị. Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiết kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới.

Bên cạnh đó, nông thôn mới phải có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị. Nông thôn ôn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ. Sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội [22, tr. Khái niệm về phát triển nông thôn mới Phát huy nội lực, nâng cao tính chủ động là một việc làm cần thiết nhằm đây.

nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới tại mỗi địa phương [16, tr. Sau hơn ba mươi năm thực hiện đường lối đổi mới dưới sự diu dit cia Đảng, nông nghiệp, nông thôn nước ta đã đạt nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn tồn tại một số yếu kém. Nông nghiệp, nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, môi trường có nguy cơ bị ô nhiễm, một số kết cấu hạ tầng còn yếu kém.

Đời sống nhân dân chưa ôn định, tỷ lệ hộ nghèo cao, nhiều tệ nạn xã hội thường xuyên xảy ra. Không thể có một nước công nghiệp nếu nông nghiệp và nông thôn còn lạc hậu và đời sống nhân dân còn thấp và “phát friền nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, 11 hiện đại hóa quê hương, đất nước; đồng thời, góp phân cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tình thân cho người dân sinh sống ở địa bàn nông thôn ". Vì vậy, có thể hiểu xây dựng nông thôn mới là một cuộc cách mạng và vận động lớn; cần có sự vào cuộc quyết liệt của toàn Đảng, toàn dân, nhân dân đồng lòng cùng nhau xây dựng để góp phần phát triển địa phương một cách toàn diện. Xây dựng nông thôn mới nhằm không ngừng nâng cao đời sống cho nông dân.

Vì vậy, người nông dân và cộng đồng dân cư giữ vai trò là chủ thê, nòng cốt trong xây. dựng nông thôn mới. Họ được biết, được bàn, được quyết định, tự làm, tự giám sát và được thụ hưởng, đóng góp công sức, tiền của đề chỉnh trang nơi ở của gia đình mình, đầu tư cho sản xuất, đóng góp xây dựng các công trình công cộng của thôn, xã. Cấp ủy, chính quyền xã, chỉ ủy, trưởng thôn là người trực tiếp tổ chức, chỉ đạo.

xây dựng nông thôn mới trên địa bàn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ