CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LY CHAT LƯỢNG SAN PHAM TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước - Hiện nay đã có một số nghiên cứu về chất lượng sản pham thép nói chung, mỗi tác giả dé cập van dé này dưới một góc độ khác nhau: - Trong bài viết “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp thép ”trên Tap chi tài chính ngày 18/03/2018, các tác giả: Ths.Trần Ngọc Linh, Ths.Nguyễn Thị Thu Hiền - ĐH Kinh Tế Và Quản Trị Kinh Doanh Thái Nguyên đã nêu lên các thành tựu nồi bật của ngành thép Việt Nam. Cụ thể là năm 2015, sản lượng thép thô đứng thứ 24 thế giới, nhập khẩu thép đứng thứ 7 thế giới. Năm 2016, tổng các loại sản phẩm thép sản xuất tăng 16,8% so với năm 2015.
Tính toàn ngành Thép trong nước, quy mô năm 2016 chiếm khoảng 5% GDP Việt Nam. Đối với hoạt động xuất khẩu, Việt Nam đang đứng ở vị trí số 1 của khu vực ASEAN về xuất khâu thép thành phẩm. Bên cạnh các điểm nỗi bật, các tác giả cũng đưa ra thực trạng những khó khăn và hạn chế như: Vận hành chưa hết công suất, công nghệ lỗi thời, gây ô nhiễm môi trường, ngành Thép Việt Nam chỉ mới khép kín được chuỗi giá trị của thép tròn, còn thép bản vẫn chỉ mang tính chất gia công.Các tác giả đưa ra các giải pháp như Tối ưu hóa quy mô sản xuất với quy trình khép kín, giúp nâng cao hiệu quả, tiết giảm tối đa chi phí sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh về giá. Các công ty trong ngành Thép cần phải liên tục cải tiến, đôi mới sáng tạo.
Nên đầu tư theo chiều sâu hơn là sản xuất tràn lan. Cần có sự quan tâm đặc biệt từ các cơ chế, chính sách của Nhà nước. - Bài viết “Giải pháp đổi mới trong sản xuất và quản lý ngành thép” — Văn phòng Năng Suất Chất Lượng — Bộ Công Thuong đăng ngày 8/7/2017 trên tap chí Năng Suất Chất Lượng - Bộ Công Thương cũng chỉ ra những áp lực cạnh tranh từ nguồn thép giá rẻ dồi dào từ thị trường Trung Quốc, năng suất và chất lượng nhân lực ngành thép Việt Nam còn chưa cao, máy móc và công nghệ còn lạc hậu, các doanh nghiệp ít tìm hiểu học hỏi kinh nghiệm quốc tế trong quản lý chất lượng, sản xuất kinh doanh, đều ảnh hưởng lớn đến việc cạnh tranh của sản phẩm. Đi cùng các phân tích về áp lực cạnh tranh, bài viết cũng đưa ra một số giải pháp nhằm cải thiện năng lực quản lý chất lượng như: Áp dụng kế hoạch trực quan giúp hiệu suất công việc tốt hơn, giảm thời gian làm việc vô ich, tăng công việc tạo giá tri, giảm công việc đột xuất bất ngờ vả nâng cao sự hài lòng về công việc.
Áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm thép quốc tế như JIS (Nhật Bản) và ASTM. Tổ chức lại thị trường, tái cơ cấu sản xuất, đổi mới công nghệ, tăng năng suất lao động dé nâng cao chat lượng và sức cạnh tranh cho sản phẩm. - Một số đề tài khác không nghiên cứu về sản phâm thép mà đi vào nghiên cứu quản lý chất lượng sản phẩm nói chung: “Quan lý chất lượng trong tiến trình hội nhập” của Ths. Trần Văn Vinh, Tổng cục trưởng Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng.
“Quản lý chất lượng ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” của Ths. Lê Quốc Bảo, Văn phòng Thông báo và Hỏi đáp quốc gia về Tiêu chuan Do lường Chất lượng (Văn phòng TBT Việt Nam) “Quản lý chất lượng đối với doanh nghiệp” của Hoàng Văn Điệp - Trung tâm Kiểm định & Kiểm nghiệm hàng hóa Lào Cai. Nhìn chung các bài viết này đều đã nêu lên những điều cốt lõi trong quản lý chất lượng ở cả hai phía: Nhà Nước và Doanh nghiệp. Hoạt động quản lý chất lượng bao gồm việc thiết lập chính sách và mục tiêu chất lượng; hoạch định chất lượng; kiểm soát chất lượng; đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng.
Hoạt động quản lý chất lượng ở Việt Nam đã có bề dày hơn nửa thế kỷ. Trong thời gian đó, hoạt động này đã có những đóng góp nhất định cho phát triển kinh tế xã hội. Hoạt động quản lý chất lượng với mức độ hội nhập quốc tế tương đối cao sẽ càng có vai trò và vị trí to lớn hơn trong việc góp phần đạt được mục tiêu phát triển kinh tế xã hội mà Đảng và Nhà nước đề ra. Qua trên cho thấy, còn có “khoảng trống” trong nghiên cứu Quản lý chất lượng sản phẩm thép tiền chế nói chung và Quản lý chất lượng sản phẩm thép tiền chế tại Công ty TNHH Xây Dựng và Kết Cấu Thép Nam Cường nói riêng, do đó cần có những nghiên cứu cụ thé dé đưa ra các giải pháp quan ly chất lượng sản phẩm thép tiền chế hiệu quả cho đơn vị này.
Cơ sở lý luận về quản lý chất lượng sản phẩm trong doanh nghiệp Phần này tập trung nghiên cứu những khái niệm, nội dung, cơ sở lý thuyết liên quan đến chất lượng và quản lý chất lượng sản phẩm trong doanh nghiệp. Chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm về chất lượng sản phẩm Khái niệm chất lượng sản phẩm đã xuất hiện từ lâu, ngày nay được sử dụng phố biến và rất thông dụng trong cuộc sống cũng như trong sách báo. Tuy nhiên hiểu thé nào là chất lượng sản phẩm là vấn đề không đơn giản. Chất lượng là mức độ thỏa mãn của một tập hợp các thuộc tính đối với những nhu cầu hay mong đợi được nêu ra hay tiềm an.
Chất lượng sản phẩm là một phạm trù rất rộng và phức tạp, phản ánh tong hợp các nội dung kỹ thuật, kinh tế và xã hội. Do tính phức tạp nên hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng sản pham. Mỗi quan niệm đều có cơ sở khoa học và thực tiễn khác nhau. Các quan niệm phô biến là: - Theo hướng phục vụ khách hàng và thị trường: Chất lượng sản phẩm là mức độ thỏa mãn nhu cầu hay là sự phù hợp với những đòi hỏi của người tiêu dùng trong giới hạn chỉ phí nhất định.
- Theo tính chất công nghệ của sản xuất: Chất lượng sản phẩm là tập hợp những đặc tính bên trong của sản phẩm có thé do được hay so sánh được, phản ánh giá tri sử dung và chức năng của sản phẩm đó đáp ứng những yêu cầu cho trước trong những điều kiện xác định về kinh tế - xã hội. Theo cam kết của nhà sản xuất: Chất lượng là tong thé các chỉ tiêu, các đặc tính của sản phâm thê hiện được sự thỏa mãn nhu câu trong điêu kiện tiêu dùng xác định Từ những điểm chung, có thể khái quát khái niệm chất lượng sản phẩm như sau: Chất lượng sản phẩm là tổng hợp các đặc tính về kỹ thuật, chủng loại và thâm mỹ của sản pham, đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi của khách hang. Các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng sản phẩm - Chỉ tiêu công dụng sản phẩm: Đặc trưng cho các tiêu chuẩn xác định, các chức năng chủ yếu của sản phẩm và quy định của sản phẩm kết cấu thép trong ngành xây dựng. - Chỉ tiêu độ an toàn: Là tiêu chuẩn quan trọng nhất của sản phẩm kết cấu thép, kết cấu làm ra phải đảm bảo cho tính an toàn trong sản xuất cũng như khi sử dụng, đảm bảo sức khoẻ và tính mạng cho người tiêu dùng.
Đây là chỉ tiêu đặc biệt quan trọng đối với sản phẩm. - Chỉ tiêu về thâm mỹ: Đặc trưng cho hình thức mẫu mã của sản phẩm. - Chỉ tiêu về công nghệ: Là khả năng gia công, dễ chế tạo, lắp ráp thành sản phẩm hoàn chỉnh, bảo đảm tiết kiệm nhất các chỉ phí. - Tính đễ vận chuyển: Đó là khả năng bố trí sắp xếp các phương tiện vận chuyền.
Tiêu chuẩn dam bảo dé vận chuyền bằng đường bộ, đường sắt, đường thủy. Các yếu to ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm Có rất nhiều các yêu tổ ảnh hưởng đến chất lượng của sản phẩm kết cấu thép, có cả yếu tố mang tính khách quan và chủ quan. Yếu tô khách quan: - _ Nguồn nguyên liệu đầu vào - Cac yêu tố bat khả kháng như chiến tranh, thiên tai. - _ Cơ chế quản lý của Nhà nước - _ Yếu tô chủ quan: - _ Thiết kế sản phẩm.
- _ Công nghệ sản xuất. - Tay nghề người lao động. - - Nguyên vật liệu. Yếu tô quản lý.
Tất cả những yếu tố trên là tác nhân chủ yếu ảnh hưởng đến chất lượng và đều có thê tác động, cải thiện nhờ năng lực quản lý chất lượng.2 Quản lý chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp 1. Các tiêu chí đánh giá quản lý chất lượng sản phẩm: I. Đưa ra quy định: Muốn quản lý tốt cần phải đưa ra quy định - quy định là chuẩn mực dé các bộ phận: Thực hiện, Đánh giá & Kiém tra - xử lý, Cải tiễn. Dé đáp ứng tiêu chí 01, doanh nghiệp cần đáp ứng các yêu cầu sau: - Doanh nghiệp đã có hệ thống quy trình quản lý hay chưa? - Nếu chưa có, với mô hình của doanh nghiệp cần có những quy định gì, cách thức xây dựng các quy định đó ra sao? - Nếu đã đưa ra quy định quản lý - các quy định đó đã phù hợp hay chưa? 2.
Thực hiện: Muốn cho nhân viên thực hiện tốt công việc và tuân thủ những định hướng lãnh đạo đưa ra doanh nghiệp phải đáp ứng các yêu cầu sau: - Các quy định đưa ra đã phù hợp hay chưa? - Nhân viên có biết và thấu hiểu những quy định đó hay không? - Làm thé nao dé duy trì việc tuân thủ các quy định đó? 3. Kiểm tra, đánh giá, xử li: Kiểm tra phát hiện ra sự không phù hợp ở các bộ phận phòng ban, hay trên dây truyền sản xuất, đúng lúc, đúng thời điểm và đưa ra cách thức xử lý hợp lý mới đảm bảo hiệu quả SXKD cho doanh nghiệp cũng như loại bỏ một số lăng phí không cần thiết do Sự không phủ hợp gây ra. (Sự không phù hop bao gồm: công việc không phù hợp, sản phẩm không phù hợp, dịch vụ không phù hợp) Đề đáp ứng tiêu chí 03, doanh nghiệp phải đáp ứng các yêu cầu sau: - Chuẩn mực, tần suất dé đánh giá, kiểm tra công việc hay sản phẩm là gì? - Nguồn lực tham gia đánh giá, kiểm tra đã có kỹ năng hay chưa? 4.