CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Dịch vụ bảo lãnh của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm dịch vụ bảo lãnh ngân hàng (BLNH) 1.
Khái niệm dịch vụ bảo lãnh ngân hàng (BLNH) Do bảo lãnh ngân hàng có vị trí vô cùng quan trọng trong các giao dịch mua bán, các hoạt động ngoại thương trong nước cũng như trong phạm vi quốc tế. Bởi vậy, ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới, doanh số của dịch vụ bảo lãnh ngân hàng đã tăng trưởng không ngừng. Với khả năng ứng dụng rộng rãi trong các loại giao dịch (tài chính lẫn phi tài chính, thương mại lẫn phi thương mại), vị trí của BLNH ngày càng được củng cố một cách chắc chắn. Có nhiều định nghĩa khác nhau về BLNH song về bản chất chúng giống nhau: Trong thương mại quốc tế, bảo lãnh được xem như một kỹ thuật tài trợ ngoại thương nhằm chống đỡ những rủi ro mà người thụ hưởng bảo lãnh phải gánh chịu do sự vi phạm nghĩa vụ của bên được bảo lãnh.
Theo từ điển pháp luật của Mỹ thì bảo lãnh là một thỏa thuận mà theo đó người bảo lãnh chấp thuận sẽ thực hiện nghĩa vụ của bên nợ chỉ khi bên nợ không trả nợ, là việc bên bảo lãnh bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện. Một cách chung nhất, bảo lãnh được hiểu là: Bảo lãnh (gọi tắt là bảo lãnh) là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay. Tại Khoản 18 Điều 4 Luật các TCTD năm 2010 quy định: “Bảo lãnh là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận.” [3] 4 Tại Khoản 1 Điều 3 Thông tư 07/2015/TT-NHNN ngày 25/06/2015 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về bảo lãnh quy định: “Bảo lãnh là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo lãnh cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh; bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh.” [9] Như vậy, BLNH là một trong các hình thức cấp tín dụng của TCTD.
Nhưng khác các hình thức cấp tín dụng khác như cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính; khi thực hiện dịch vụ bảo lãnh, TCTD không phải cung ứng vốn cho khách hàng mà chỉ dùng uy tín và khả năng tài chính của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cho khách hàng. Về bản chất, BLNH là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, nó mang tính phái sinh (phát sinh từ nghĩa vụ chính được giao kết giữa khách hàng với bên thứ ba). Tham gia BLNH bao gồm ít nhất 3 chủ thể, đó là: bên bảo lãnh, bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh. Bên bảo lãnh là các TCTD thực hiện dịch vụ bảo lãnh, bao gồm NHTM Nhà nước, NHTM cổ phần, ngân hàng đầu tư, ngân hàng phát triển, ngân hàng chính sách, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, ngân hàng hợp tác, các loại hình ngân hàng khác và các TCTD phi ngân hàng thành lập và hoạt động theo Luật các TCTD.
Bên được bảo lãnh là khách hàng được TCTD bảo lãnh, bao gồm: • Các doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh hợp pháp tại Việt Nam như doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh cá thể. • Các TCTD được thành lập và hoạt động theo Luật các TCTD. • Hợp tác xã và các tổ chức khác có đủ điều kiện quy định tại Điều 94 của Bộ luật Dân sự. 5 • Các tổ chức kinh tế nước ngoài tham gia các hợp đồng hợp tác liên doanh và tham gia đấu thầu các dự án đầu tư tại Việt Nam hoặc vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư tại Việt Nam.
TCTD không được bảo lãnh đối với những trường hợp sau đây: • Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của TCTD. • Cán bộ nhân viên của TCTD thực hiện thẩm định, quyết định bảo lãnh. • Bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của TCTD. Bên nhận bảo lãnh là các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có quyền thụ hưởng bảo lãnh của TCTD.
Lịch sử hình thành và phát triển của bảo lãnh Ngân hàng thương mại Vào đầu thập niên 70 của thế kỷ XX, bảo lãnh ngân hàng (BLNH) được ra đời, phát triển và trở thành một loại hình dịch vụ được khách hàng của các ngân hàng hiện đại tin tưởng sử dụng. Theo quan niệm marketing sự ra đời một sản phẩm dịch vụ mới thường bắt nguồn từ ba nhân tố: Phát sinh nhu cầu, khả năng cung ứng và sự cho phép của luật pháp. Dịch vụ bảo lãnh thúc đẩy sự tin tưởng giữa các chủ thể của nền kinh tế trong phạm vi một quốc gia và trên toàn thế giới. Khi các đối tác của Hợp đồng kinh tế chưa có đầy đủ thông tin để tin tưởng về nhau, thì lúc này bảo lãnh ngân hàng xuất hiện sẽ đảm bảo quyền lợi của các bên tham gia quan hệ kinh tế.
Hiện nay dịch vụ bảo lãnh ngân hàng đã không ngừng phát triển rộng rãi trên nhiều lĩnh vực. Để đáp ứng nhu cầu bức bách của nền kinh tế thì loại hình dịch vụ ngân hàng này đã phát triển có nhiều bước tiến nổi bật. Chức năng và vai trò của bảo lãnh - Chức năng của bảo lãnh: Bảo lãnh là công cụ bảo đảm. Đây là chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh.
Bằng việc cam kết chi trả bồi thường khi xảy ra các biến cố vi phạm hợp đồng của người được bảo lãnh, các ngân hàng phát hành bảo lãnh đã tạo ra một sự đảm bảo chắc chắn cho người thụ 6 hưởng. Chính sự tin tưởng này tạo điều kiện cho hợp đồng được ký kết một cách suôn sẻ thuận lợi. Bảo lãnh là công cụ tài trợ. Không chỉ là công cụ bảo đảm đối với người thụ hưởng, bảo lãnh còn là công cụ tài trợ thực sự về mặt tài chính cho người được bảo lãnh.
Trong rất nhiều trường hợp, thông qua bảo lãnh khách hàng (người được bảo lãnh ) không phải xuất quỹ, được thu hồi vốn nhanh chóng, được vay nợ hoặc được kéo dài thời gian thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, tiền nộp thuế. Vì vậy, mặc dù không trực tiếp cấp vốn nhưng với việc phát hành bảo lãnh đã giúp cho khách hàng của họ được hưởng những thuận lợi về ngân quỹ như khi được cho vay thực sự. Bảo lãnh là công cụ thúc đẩy. Trong suốt thời gian có hiệu lực của bảo lãnh, người thụ hưởng có quyền yêu cầu thanh toán khi người được bảo lãnh vi phạm hợp đồng cam kết và ngân hàng có quyền đòi lại khoản tiền này.
Như vậy ngân hàng phát hành bảo lãnh luôn chịu một áp lực của việc thanh toán thay nếu như người được bảo lãnh không thực hiện đầy đủ cam kết của họ. Do vậy, ngân hàng bảo lãnh luôn phải có biện pháp đôn đốc người được bảo lãnh hoàn tất hợp đồng kinh tế đã ký kết. - Vai trò của bảo lãnh: *. Đối với ngân hàng.
Kể từ khi xuất hiện ở Việt Nam dịch vụ bảo lãnh đã khẳng định được vị trí quan trọng của mình qua việc nâng cao hiệu quả các hợp đồng kinh tế và lành mạnh hoá môi trường thương mại. Điều này được chứng minh bởi những lợi ích thiết thực mà bảo lãnh mang lại cho ngân hàng, cho doanh nghiệp và cho cả nền kinh tế. Trước hết là đối với ngân hàng: + Việc thực hiện dịch vụ bảo lãnh mang lại cho ngân hàng một nguồn thu nhập đó chính là phí bảo lãnh mà ngânhàng thu từ khách hàng của mình. Phí bảo lãnh chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng dịch vụ các ngân hàng hiện đại.
Khi phát hành bảo lãnh, ngân hàng chưa phải thực hiện giải ngân vốn vay ngay, do vậy chưa phải 7 sử dụng nguồn vốn của mình, không phải trả chi phí huy động và không phải mất chi phí cơ hội cho mục đích kinh doanh khác. + Ngoài ra việc ký qũy để phát hành bảo lãnh là khoản tiền gửi vào tài khoản phong toả tại ngân hàng bảo lãnh suốt thời gian bảo lãnh, cho nên đối với ngân hàng đây là nguồn vốn khá ổn định mà thông thường được qui định không phải trả lãi hoặc lãi không kỳ hạn. Mặt khác do tiền ký quĩ lớn, trong đó có một phần là vốn tự có của khách hàng và phần lớn khách hàng phải thế chấp tài sản vay tiền để ký quĩ bảo lãnh nên ngân hàng có thể vừa cho vay tương đối an toàn, lại vừa thu được lãi vay. + Nội dung văn bản bảo lãnh thường có điều kiện ràng buộc nhất định, do đó ngân hàng có thể đảm bảo hoạt động của mình diễn ra an toàn, ràng buộc khách hàng phải thực hiện các dịch vụ thanh toán, đồng thời thu được phí dịch vụ cho ngân hàng.
+ Ngoài ra, thực hiện bảo lãnh giúp cho ngân hàng thực hiện được chính sách khách hàng, một mặt đáp ứng nhu cầu và gắn bó hơn với khách hàng mới. Từ đó góp phần nâng cao uy tín và tăng cường quan hệ của ngân hàng, đặc biệt là trên trường quốc tế. Đối với doanh nghiệp. + Đối với bên được hưởng bảo lãnh.
Bảo lãnh có ý nghĩa đảm bảo cho doanh nghiệp yên tâm khi tham gia giao dịch, tiết kiệm được thời gian và chi phí, không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh.