CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Một số cơ sở lý luận về chi thường xuyên ngân sách Nhà Nước 1. Khái niệm Ngân sách Nhà Nước Ngân sách là kế hoạch thu và chi được xác định từ trước của các tác nhân kinh tế như hộ gia đình, doanh nghiệp, chính phủ. Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế, lịch sử gắn liền với sự hình thành và phát triển của Nhà nước và của hàng hóa, tiền tệ.
Nhà nước với tư cách là cơ quan quyền lực thực hiện duy trì và phát triển xã hội thường quy định các khoản thu mang tính bắt buộc các đối tượng trong xã hội phải đóng góp để đảm bảo chi tiêu cho bộ máy Nhà nước, quân đội, cảnh sát, giáo dục. Trải qua nhiều giai đoạn phát triển của các chế độ xã hội, nhiều khái niệm về Ngân sách nhà nước đã được đề cập theo các góc độ khác nhau. Ngân sách nhà nước là một văn kiện lập pháp hay một đạo luật chứa đựng hay có kèm theo một bảng kê khai các khoản thu chi dự liệu cho một thời gian nào đó, là một khuôn mẫu mà các cơ quan lập pháp, hành pháp cùng các cơ quan hành chính phụ thuộc phải tuân theo (Đồng Thị Vân Hồng, 2016). Ngân sách nhà nước là kế hoạch thu chi tài chính hàng năm của Nhà nước được xét duyệt theo trình tự pháp định.
Ngân sách nhà nước là bản dự toán (bản ghi) cân đối hàng năm về thu, chi cho các cơ quan chính quyền Nhà nước (Đặng Văn Dụ, Bùi Tiến Mạnh, 2015). Về hình thức, các khái niệm này có sự khác nhau nhất định, tuy nhiên, chúng đều phản ánh về các kế hoạch, dự toán thu, chi của Nhà nước trong một thời gian nhất định với hình thái biểu hiện là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước và Nhà nước sử dụng quỹ tiền tệ tập trung đó để trang trải cho các chi tiêu gồm: chi cho hoạt động của bộ máy Nhà nước, chi cho an ninh quốc phòng, chi cho an sinh xã hội… 8 Trong thực tiễn hoạt động Ngân sách nhà nước là hoạt động thu (tạo thu) và chi tiêu (sử dụng) quỹ tiền tệ của Nhà nước, làm cho nguồn tài chính vận động giữa một bên là Nhà nước với một bên là các chủ thể kinh tế, xã hội trong quá trình phân phối tổng sản phẩm quốc dân dưới hình thức giá trị. Đằng sau các hoạt động thu chi đó chứa đựng các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể khác. Nói cách khác, Ngân sách nhà nước phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế – xã hội và trong phân phối tổng sản phẩm xã hội.
Thông qua việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, chuyển dịch một bộ phận thu nhập bằng tiền của các chủ thể thành thu nhập của Nhà nước và Nhà nước chuyển dịch thu nhập đó đến các chủ thể được thụ hưởng nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Việt Nam, Ngân sách nhà nước được quy định trong Luật Ngân sách Nhà nước như sau: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước” (Đặng Văn Dụ, Bùi Tiến Mạnh, 2015). Tổ chức hệ thống ngân sách Nhà Nước cấp tỉnh Ngân sách cấp tỉnh có vị thế độc lập tương đối trong cả ba khâu của chu trình NS, nhưng chịu sự chỉ đạo, quản lý thống nhất của Chính phủ. Việc phân cấp quản lý nhiệm vụ chi giữa Chính phủ và chính quyền cấp tỉnh do Luật NSNN và các Nghị định của Chính phủ quy định.
NSTW có thể bổ sung cho NS cấp tỉnh, nhưng NS cấp tỉnh không được chi cho nhiệm vụ của NS cấp huyện. Trong phạm vi phân chia nguồn thu, nhiệm vụ chi, NS cấp tỉnh được ổn định nguồn thu, nhiệm vụ chi trong thời gian từ 3-5 năm. Sự phân chia quyền hạn và trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý chi NSNN cấp tỉnh thể hiện ở sơ đồ 1. 9 Quốc hội Bộ KHĐT Chính phủ Bộ Tài chính tỉnh Sở KHĐT UBND tỉnh Sở Tài chính Các huyện, thị, Cơ quan hành Đoàn thể, tổ Đơn vị sự chính nhà nước chức chính trị xã thành phố trực nghiệp tỉnh hội tỉnh thuộc tỉnh Sơ đồ 1.
Mối quan hệ giữa bộ máy quản lý ngân sách nhà nước cấp tỉnh với bộ máy quản lý ngân sách nhà nước ở Trung ương (Nguồn: Tô Thiện Hiền, 2015) Nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp tỉnh: Căn cứ vào nhiệm vụ thu, chi NS được cấp trên giao và tình hình thực tế tại địa phương, HĐND có quyền quyết định: Dự toán chi NSĐP, bao gồm chi NS cấp mình và chi NS địa phương cấp huyện; tổng mức vay của NSĐP, bao gồm vay để bù đắp bội chi NSĐP và vay để trả nợ gốc của NSĐP; quyết định phân bổ dự toán NS cấp tỉnh gồm: tổng số; chi ĐTPT và chi thường xuyên theo từng lĩnh vực; chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính địa phương; dự phòng NS; dự toán chi ĐTPT, chi thường xuyên của từng cơ quan, đơn vị thuộc cấp mình theo từng lĩnh vực; mức bổ sung cho NS từng địa phương cấp dưới trực tiếp, gồm bổ sung cân đối NS, bổ sung có mục tiêu. Phê chuẩn quyết toán NSĐP; Quyết định các chủ trương, biện pháp để triển khai thực hiện NSĐP; Quyết định điều chỉnh dự toán NSĐP trong trường hợp cần thiết. 10 Giám sát việc thực hiện NSĐP đã được HĐND quyết định. Bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật về tài chính - NS của UBND, Chủ tịch UBND cấp tỉnh và HĐND cấp huyện nếu các văn bản này trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên.
Quyết định danh mục các chương trình, dự án thuộc kế hoạch đầu tư trung hạn từ nguồn NSNN cấp tỉnh; quyết định chương trình, dự án đầu tư quan trọng từ nguồn NSNN cấp tỉnh. Quyết định kế hoạch tài chính 05 năm gồm các nội dung: Mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể của kế hoạch tài chính 05 năm; khả năng thu NSNN trên địa bàn; thu, chi NSĐP, bội chi NSĐP; giới hạn mức vay của NSĐP; giải pháp chủ yếu để thực hiện kế hoạch. Quyết định mức bội chi NSĐP và nguồn bù đắp bội chi NSĐP hằng năm; Quyết định việc phân cấp nhiệm vụ chi cho từng cấp NS ở địa phương; Quyết định nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ NS ở địa phương; Quyết định cụ thể đối với một số chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NS theo quy định khung của Chính phủ; Quyết định các chế độ chi NS đối với một số nhiệm vụ chi có tính chất đặc thù ở địa phương ngoài các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NS do Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành để thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn, phù hợp với khả năng cân đối của NSĐP. Nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp tỉnh Lập dự toán NSĐP, phương án phân bổ NS cấp tỉnh theo quy định của Luật NSNN; dự toán điều chỉnh NSĐP trong trường hợp cần thiết, trình HĐND cấp tỉnh quyết định và báo cáo Bộ trưởng Bộ Tài chính, Thủ tướng Chính phủ.
Lập quyết toán NSĐP trình HĐND cấp tỉnh phê chuẩn và báo cáo Bộ Tài chính, Thủ tướng Chính phủ. Kiểm tra nghị quyết của HĐND cấp huyện về lĩnh vực tài chính - NS. 11 Căn cứ vào nghị quyết của HĐND cấp tỉnh, quyết định giao nhiệm vụ chi NS cho từng cơ quan, đơn vị trực thuộc; nhiệm vụ chi, mức bổ sung cho NS cấp huyện. Quyết định các giải pháp và tổ chức thực hiện dự toán NSĐP được HĐND cấp tỉnh quyết định; kiểm tra, báo cáo việc thực hiện NSĐP với Chính phủ.
Phối hợp với các cơ quan nhà nước cấp trên trong việc quản lý NSNN trên địa bàn. Báo cáo, công khai NSNN theo quy định của pháp luật. Thực hiện quản lý NS theo kết quả thực hiện nhiệm vụ. Lập và trình HĐND cấp tỉnh: Kế hoạch tài chính 05 năm; nội dung phân cấp nhiệm vụ chi cho cấp huyện; nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ NS ở địa phương; chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NS theo quy định khung của Chính phủ; chế độ chi NS đối với một số nhiệm vụ chi có tính chất đặc thù ở địa phương; kế hoạch tài chính - NS nhà nước 03 năm; kế hoạch sử dụng quỹ dự trữ tài chính và các quỹ tài chính khác Chỉ đạo Sở Tài chính chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan lập, giám sát và quyết toán chi NSĐP.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Sở Tài chính: Lập dự toán chi NSĐP, phương án phân bổ ngân sách cấp tỉnh báo cáo UBND cấp tỉnh; hướng dẫn các cơ quan hành chính, các đơn vị sự nghiệp thuộc tỉnh và cơ quan tài chính cấp dưới xây dựng dự toán NSNN hàng năm. Thực hiện kiểm tra, thẩm tra dự toán NS của các cơ quan, đơn vị cùng cấp và dự toán ngân sách của cấp dưới; Kiểm tra, giám sát việc quản lý và sử dụng NS ở các cơ quan, đơn vị sử dụng NS; yêu cầu KBNN tạm dừng thanh toán khi phát hiện chi vượt dự toán, chi sai chính sách chế độ hoặc không chấp hành chế độ báo cáo của Nhà nước; Thẩm định quyết toán chi ngân sách huyện; thẩm định và thông báo quyết toán đối với các cơ quan hành chính, các đơn vị sự nghiệp và các tổ chức khác có sử dụng ngân sách tỉnh; Tổng hợp tình hình chi NSĐP, lập tổng quyết toán 12 NS hàng năm của địa phương trình báo cáo UBND cấp tỉnh, báo cáo Bộ Tài chính; Phối hợp với Sở KHĐT và các cơ quan liên quan xây dựng dự toán và phương án phân bổ dự toán chi ĐTPT hàng năm; trình UBND cấp tỉnh quyết định phân bổ vốn đầu tư, danh mục dự án đầu tư có sử dụng vốn NS; kế hoạch điều chỉnh phân bổ vốn đầu tư trong trường hợp cần thiết; xây dựng kế hoạch điều chỉnh, điều hoà vốn đầu tư đối với các dự án đầu tư từ nguồn NSĐP. Kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch vốn đầu tư, tình hình quản lý, sử dụng vốn đầu tư, quyết toán vốn đầu tư thuộc NSĐP của chủ đầu tư và cơ quan tài chính huyện, xã; tình hình kiểm soát thanh toán vốn đầu tư của KBNN ở tỉnh, huyện.